TÓM TẮT
Định nghĩa – Nữ hóa tuyến vú được định nghĩa về mặt mô bệnh học là sự tăng sinh lành tính của mô tuyến vú ở nam giới, và về mặt lâm sàng là sự xuất hiện của một khối chắc hoặc có mật độ như cao su, lan tỏa đồng tâm từ quầng vú (hình 1). Tình trạng tích tụ mỡ mà không có sự tăng sinh mô tuyến được gọi là giả nữ hóa tuyến vú (lipomastia; thường gặp ở nam giới béo phì). (Xem mục ‘Định nghĩa’ ở dưới.)
Dịch tễ học – Nữ hóa tuyến vú thường gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ vị thành niên. Ước tính khoảng 60% đến 90% trẻ sơ sinh nam có tình trạng nữ hóa tuyến vú thoáng qua do ảnh hưởng của môi trường nồng độ estrogen cao trong thai kỳ. Đỉnh cao thứ hai xảy ra trong giai đoạn dậy thì, ảnh hưởng đến khoảng 1/3 đến 2/3 số bé trai. Trong hầu hết các trường hợp, mô vú sẽ tự thoái triển. (Xem “Nữ hóa tuyến vú ở trẻ em và vị thành niên”.)
Cơ chế bệnh sinh – Cơ chế bệnh sinh cơ bản của nữ hóa tuyến vú là sự mất cân bằng về nồng độ hoặc tác động giữa androgen và estrogen, do giảm nồng độ androgen trong huyết thanh, tăng nồng độ estrogen hoặc do các hóa chất kháng androgen/tác động giống estrogen (ví dụ: thuốc). (Xem mục ‘Cơ chế bệnh sinh’ ở dưới.)
Nguyên nhân – Ở bệnh nhân trưởng thành đến khám vì nữ hóa tuyến vú, các ước tính hiện nay cho thấy các nguyên nhân sau (bảng 3) (xem mục ‘Dịch tễ học’ và ‘Nguyên nhân gây nữ hóa tuyến vú’ ở dưới):
- Không phát hiện bất thường: 25%
- Nữ hóa tuyến vú thời kỳ dậy thì kéo dài: 25%
- Thuốc: 10% đến 25% (bảng 2)
- Xơ gan hoặc suy dinh dưỡng: 8%
- Suy tuyến sinh dục nam: 10% (suy tuyến sinh dục nguyên phát [8%], suy tuyến sinh dục thứ phát [2%])
- U tinh hoàn: 3%
- Cường giáp không được điều trị: 1,5%
- Bệnh thận mạn: 1%