TÓM TẮT
Các loại hình dự phòng lâm sàng – Có bốn loại hình chăm sóc dự phòng lâm sàng chính: tiêm chủng, tầm soát, tư vấn hành vi (đôi khi gọi là thay đổi lối sống) và dự phòng bằng hóa chất. Tầm soát là quá trình phát hiện một bệnh lý chưa có triệu chứng, một tình trạng sức khỏe không bình thường hoặc các yếu tố nguy cơ. (Xem thêm ‘Các loại phòng ngừa lâm sàng’ ở dưới.)
Các cấp độ dự phòng – Nội dung này xác định ba cấp độ dự phòng:
- Dự phòng cấp 1 – Các can thiệp nhằm ngăn chặn bệnh xảy ra (ví dụ: tiêm chủng phòng bệnh truyền nhiễm).
- Dự phòng cấp 2 – Phát hiện sớm bệnh ở giai đoạn chưa có triệu chứng (ví dụ: tầm soát).
- Dự phòng cấp 3 – Giảm thiểu các biến chứng của bệnh (ví dụ: khám mắt cho bệnh nhân đái tháo đường).
Cách gọi tên này có thể được áp dụng khác nhau tùy theo từng chuyên khoa. (Xem thêm ‘Các cấp độ phòng ngừa’ ở dưới.)
Tiêu chuẩn đánh giá tầm soát – Có ba tiêu chuẩn quan trọng khi quyết định lựa chọn tình trạng cần tầm soát (xem ‘Tiếp cận khoa học trong phòng ngừa lâm sàng’ ở dưới):
- Gánh nặng bệnh tật do tình trạng đó gây ra (bao gồm các vấn đề liên quan đến tỷ lệ lưu hành và mức độ nghiêm trọng của bệnh).
- Hiệu quả, tính an toàn và chi phí của can thiệp dự phòng hoặc điều trị.
- Hiệu năng của xét nghiệm tầm soát.
Việc đánh giá hiệu năng của một xét nghiệm tầm soát cần bao gồm phân tích độ chính xác của xét nghiệm (bao gồm độ nhạy, độ đặc hiệu và giá trị dự báo dương tính), tính an toàn, sự thuận tiện khi thực hiện, chi phí và mức độ chấp nhận của bệnh nhân cũng như lâm sàng. (Xem thêm ‘Hiệu quả của các xét nghiệm sàng lọc’ ở dưới.)
Các vấn đề về phương pháp luận trong nghiên cứu tầm soát – Các vấn đề về phương pháp luận cần xem xét khi đánh giá hiệu quả tầm soát bao gồm: khả năng xảy ra sai số (bias), bao gồm sai số thời gian dẫn trước (lead-time bias), sai số thời gian hiện diện (length-time bias) và sai số tuân thủ (compliance bias), cũng như việc dữ liệu bao gồm cả tầm soát tỷ lệ lưu hành và tỷ lệ mới mắc hay chỉ tầm soát tỷ lệ lưu hành. (Xem thêm ‘Các vấn đề về phương pháp luận trong đánh giá các chương trình sàng lọc’ ở dưới.)
Tác dụng không mong muốn của tầm soát – Các tác dụng không mong muốn của tầm soát bao gồm tổn thương vật lý từ một số xét nghiệm, gán nhãn tiêu cực, kết quả dương tính giả dẫn đến theo dõi không cần thiết và chẩn đoán quá mức, cũng như phát hiện các tổn thương tình cờ (incidentalomas). (Xem thêm ‘Những hệ lụy không mong muốn của sàng lọc’ ở dưới.)
Đánh giá và thảo luận về các khuyến cáo tầm soát – Khi xem xét các khuyến cáo về dự phòng, các bác sĩ lâm sàng có thể xác định xem lợi ích và tác hại của hoạt động đó có được trình bày một cách dễ hiểu hay không (sử dụng nguy cơ tuyệt đối thay vì nguy cơ tương đối), và liệu khuyến cáo đó đã tính đến mức độ mạnh của bằng chứng hay chưa. Họ cũng có thể tìm kiếm các ước tính về hiệu quả chi phí. Những thông tin này nên được chia sẻ với bệnh nhân để giúp họ đưa ra quyết định sáng suốt về các hoạt động dự phòng, dựa trên cả thông tin khoa học và giá trị cá nhân của họ. (Xem thêm ‘Cân nhắc giữa lợi ích và tác hại của việc dự phòng’ ở dưới.)