TÓM TẮT
Nguy cơ biến chứng – Để ngăn ngừa tình trạng thiếu hụt thể tích, huyết tương của bệnh nhân cần được thay thế bằng dịch bù phù hợp về mặt lâm sàng, có thể là huyết tương đồng loại, dung dịch keo hoặc dung dịch tinh thể. Tần suất và loại biến chứng trong gạn tách điều trị phụ thuộc vào tình trạng tổng quát của bệnh nhân, số lần thay huyết tương, loại dịch bù và đường tiếp cận tĩnh mạch. Các biến chứng thường gặp được liệt kê trong bảng (bảng 1). Các phản ứng bất lợi thường xảy ra phổ biến hơn khi sử dụng huyết tương làm dịch bù. (Xem mục ‘Tổng quan về các biến chứng’ ở dưới.)
Hạ canxi máu – Citrate gây hạ canxi máu do gắn kết với canxi ion hóa. Tình trạng hạ canxi máu do citrate có thể xảy ra với bất kỳ sản phẩm máu nào được sử dụng trong thay huyết tương điều trị (TPE) và thay hồng cầu (RBC), và các triệu chứng độc tính của citrate thường xuyên xuất hiện. Các triệu chứng sớm tiềm tàng bao gồm dị cảm hoặc tê vùng quanh miệng và đầu chi; các phản ứng nghiêm trọng có thể bao gồm tetany (co cứng cơ), kéo dài khoảng QT, loạn nhịp tim hoặc tụt huyết áp. Có nhiều chiến lược khác nhau để giảm thiểu biến chứng này. (Xem mục ‘Hạ canxi máu do citrate’ ở dưới.)
Biến chứng khi bù dịch không phải huyết tương – Các biến chứng bao gồm kiềm chuyển hóa, loại bỏ hoặc làm giảm nồng độ thuốc, hoặc các biến chứng liên quan đến catheter đường truyền mạch máu. (Xem mục ‘Kiềm chuyển hóa do citrate’ ở dưới, ‘Loại bỏ/giảm nồng độ thuốc’ ở dưới và ‘Biến chứng catheter mạch máu’ ở dưới.)
Biến chứng khi bù nước muối sinh lý – Các dịch bù không phải huyết tương có thể gây hạ kali máu hoặc làm cạn kiệt các yếu tố đông máu hoặc immunoglobulin. Cần đánh giá cơ bản chỉ số PT, aPTT và/hoặc nồng độ fibrinogen trước khi bắt đầu gạn tách cho những bệnh nhân dự kiến phải thực hiện nhiều lần; đồng thời nên xác định nồng độ IgG cơ bản cho những bệnh nhân cần thay huyết tương tích cực. (Xem mục ‘Cạn kiệt yếu tố đông máu’ ở dưới và ‘Cạn kiệt immunoglobulin’ ở dưới.)
Tình trạng đỏ bừng mặt, tụt huyết áp, đau quặn bụng và các triệu chứng tiêu hóa khác đã được báo cáo (mặc dù hiếm gặp) trong quá trình TPE ở những bệnh nhân đang sử dụng thuốc ức chế men chuyển (ACE). Để giảm thiểu biến chứng này, khuyến cáo nên tạm ngưng thuốc ức chế men chuyển từ 24 đến 48 giờ trước khi thực hiện TPE nếu bệnh nhân có thể dung nạp được việc gián đoạn ngắn hạn. (Xem mục ‘Biến chứng liên quan đến thuốc ức chế men chuyển’ ở dưới.)
Biến chứng khi bù huyết tương hoặc hồng cầu – Việc tiếp xúc với huyết tương hoặc hồng cầu từ người hiến có thể gây ra phản ứng truyền máu tan máu nếu truyền máu không tương thích, phản ứng phản vệ, phản ứng dị ứng (ví dụ: mày đay), tổn thương phổi cấp liên quan đến truyền máu (TRALI), phơi nhiễm với các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm hoặc các biến chứng khác (xem mục ‘Phơi nhiễm huyết tương hoặc hồng cầu từ người hiến’ ở dưới). Cách tiếp cận tổng quát để đánh giá và xử trí phản ứng truyền máu cấp tính được trình bày chi tiết riêng biệt (sơ đồ 1 và bảng 3). (Xem “Tiếp cận bệnh nhân nghi ngờ có phản ứng truyền máu cấp tính”.)
Theo dõi – Huyết áp, nhiệt độ và các dấu hiệu sinh tồn khác cần được theo dõi thường xuyên trong quá trình gạn tách điều trị; bất kỳ thay đổi nào so với chỉ số cơ bản trước thủ thuật đều cần được đánh giá kịp thời. (Xem mục ‘Đánh giá nghi ngờ biến chứng’ ở dưới.)
Tỷ lệ tử vong – Tỷ lệ tử vong tổng quát của TPE được báo cáo là 0,03% đến 0,05%; nguyên nhân tử vong thường gặp nhất là do các biến chứng hô hấp hoặc tim mạch. (Xem mục ‘Tử vong’ ở dưới.)
Định nghĩa và chỉ định – Tổng quan về các thuật ngữ dùng để mô tả thủ thuật gạn tách; các loại chỉ định mà gạn tách điều trị có hiệu quả, bao gồm các phân loại điều trị của Hiệp hội Gạn tách Hoa Kỳ (ASFA); và các vấn đề thực hành trong kỹ thuật gạn tách được thảo luận chi tiết trong một phần riêng. (Xem “Gạn tách điều trị (thay huyết tương hoặc gạn tách tế bào): Chỉ định và kỹ thuật”.)