Ngộ độc toàn thân do thuốc tê

TÓM TẮT

Tổng quan nhanh – Các yếu tố nguy cơ, biểu hiện lâm sàng và hướng điều trị ngộ độc toàn thân do thuốc tê (LAST) được trình bày chi tiết trong bảng (bảng 4).

Tầm quan trọng của LAST – LAST gây ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương (CNS) và hệ tim mạch. Mặc dù tỷ lệ báo cáo về các biến cố LAST nghiêm trọng (ví dụ: co giật, ngưng tim) liên quan đến gây tê vùng là rất thấp (0,04 đến 1,8 trên 1.000 trường hợp), nhưng những biến cố này có thể dẫn đến tử vong. (Xem ‘Tỷ lệ mắc LAST’ ở dưới.)

Sự khác biệt giữa các loại thuốc tê – Tất cả các loại thuốc tê đều có tiềm năng gây LAST. Độc tính trên tim và mối liên hệ giữa độc tính tim mạch (CV) và độc tính thần kinh trung ương (CNS) khác nhau tùy loại thuốc. Bupivacaine là loại thuốc tê thông dụng có độc tính trên tim cao nhất, tiếp theo lần lượt là levobupivacaine, ropivacaine và lidocaine. (Xem ‘Sự khác biệt về độc tính giữa các loại thuốc tê’ ở dưới.)

Yếu tố nguy cơ

  • Các yếu tố từ bệnh nhân làm tăng nguy cơ LAST bao gồm: độ tuổi quá cao hoặc quá thấp, bệnh lý thận, gan hoặc tim, thai kỳ và các rối loạn chuyển hóa. (Xem ‘Yếu tố nguy cơ từ bệnh nhân’ ở dưới.)
  • Các yếu tố liên quan đến quy trình bao gồm: các vị trí gây tê giàu mạch máu và các kỹ thuật gây tê đòi hỏi thể tích thuốc tê lớn. (Xem ‘Vị trí gây tê’ ở dưới.)

Dự phòng – Nguy cơ xảy ra LAST trong gây tê vùng có thể được giảm thiểu bằng các biện pháp sau (xem ‘Dự phòng LAST’ ở dưới):

  • Giới hạn liều thuốc tê ở mức thấp nhất có hiệu quả.
  • Thêm epinephrine tỷ lệ 1:200.000 đến 1:400.000 vào dung dịch thuốc tê để làm dấu hiệu nhận biết khi tiêm vào lòng mạch.
  • Luôn hút thử trước mỗi lần bơm thuốc.
  • Tiêm từng liều nhỏ (ví dụ: 3 đến 5 mL), theo dõi các dấu hiệu của LAST giữa các lần tiêm.
  • Sử dụng hướng dẫn của siêu âm cho gây tê thần kinh ngoại biên.
  • Tránh an thần sâu hoặc gây mê toàn thân trong quá trình thực hiện gây tê.

Biểu hiện lâm sàng – Biểu hiện lâm sàng của LAST rất đa dạng (hình 1). (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng của độc tính’ ở dưới.)

Hệ thần kinh trung ương (CNS) – Các biến cố LAST thường khởi đầu bằng các dấu hiệu và triệu chứng kích thích CNS (ví dụ: tê quanh miệng, vị kim loại trong miệng, thay đổi trạng thái tâm thần hoặc lo âu, thay đổi thị giác, co giật cơ và cuối cùng là co giật toàn thân), sau đó là giai đoạn ức chế CNS (ví dụ: buồn ngủ, hôn mê và ức chế hô hấp).

Hệ tim mạch (CV) – Các dấu hiệu và triệu chứng tim mạch có thể xuất hiện đồng thời hoặc sau các triệu chứng thần kinh, bao gồm tăng huyết áp hoặc hạ huyết áp, nhịp tim nhanh hoặc nhịp tim chậm, sau đó là loạn nhịp thất và/hoặc ngừng tim.

Xử trí – LAST cần được nhận biết và điều trị nhanh chóng, ưu tiên dự phòng thiếu oxy và toan chuyển hóa, kiểm soát co giật và hỗ trợ tim mạch, như đã nêu trong phần Tổng quan nhanh (bảng 4). (Xem ‘Xử trí LAST’ ở dưới.)

Liệu pháp cứu vãn bằng lipid (Lipid rescue) – Chúng tôi khuyến cáo sử dụng nhũ tương lipid tĩnh mạch (ILE) cho những bệnh nhân LAST có biểu hiện co giật hoặc sắp co giật, hoặc có dấu hiệu độc tính tim mạch (như loạn nhịp tim, hạ huyết áp nặng hoặc ngưng tim) kết hợp với hồi sức tim phổi nâng cao (ACLS) (Khuyến cáo 1C). Mặc dù cơ chế tác dụng của liệu pháp lipid và liều lượng tối ưu vẫn chưa được xác định rõ, nhưng vì LAST có thể gây tử vong và các tác dụng không mong muốn của nhũ tương lipid dường như hiếm gặp. Liều ILE khuyến cáo được trình bày trong phần Tổng quan nhanh (bảng 4). (Xem ‘Liệu pháp cứu vãn bằng lipid’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here