TÓM TẮT
-
Định nghĩa – Rung nhĩ kịch phát (PAF; hay còn gọi là rung nhĩ ngắt quãng) được định nghĩa là tình trạng rung nhĩ tự chấm dứt hoặc chấm dứt sau can thiệp trong vòng 7 ngày kể từ khi khởi phát. (Xem thêm phần ‘Định nghĩa và tỷ lệ lưu hành’ ở dưới.)
-
Yếu tố khởi phát – Các yếu tố khởi phát rung nhĩ kịch phát hiện chưa được hiểu rõ hoàn toàn, nhưng được cho là do các ngoại tâm thu nhĩ (PACs) và những thay đổi trong hoạt động của hệ thần kinh tự chủ. (Xem thêm phần ‘Cơ chế bệnh sinh’ ở dưới.)
-
Triệu chứng – Tương tự như rung nhĩ kéo dài, rung nhĩ kịch phát có thể kèm theo hoặc không kèm theo triệu chứng, với biểu hiện lâm sàng rất đa dạng. Các phàn nàn phổ biến nhất bao gồm hồi hộp đánh trống ngực, thường đi kèm khó thở, cảm giác choáng váng, mệt mỏi, yếu sức hoặc mệt mỏi toàn thân. Rung nhĩ kịch phát có thể khởi phát cơn đau thắt ngực và/hoặc gây ra các thay đổi trên điện tâm đồ do thiếu máu cục bộ. Tình trạng này hiếm khi gây ngất. (Xem thêm phần ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
-
Tái phát – Hầu hết bệnh nhân rung nhĩ kịch phát có một hoặc nhiều lần tái phát trong năm tiếp theo. Hơn một phần ba số bệnh nhân có thể tiến triển thành rung nhĩ kéo dài trong vòng 10 năm; nguy cơ tiến triển này tăng theo tuổi tác và sự hiện diện của các bệnh lý tim mạch như hẹp van hai lá do thấp và tăng huyết áp. (Xem thêm phần ‘Diễn tiến tự nhiên’ ở dưới.)
-
Nguy cơ thuyên tắc mạch – Các nghiên cứu cho thấy nguy cơ xảy ra biến cố thuyên tắc mạch ở bệnh nhân rung nhĩ kịch phát thấp hơn so với bệnh nhân rung nhĩ kéo dài hoặc vĩnh viễn, có liên quan đến gánh nặng rung nhĩ (tức là tỷ lệ thời gian bị rung nhĩ) và đạt mức cao nhất trong những ngày ngay sau một cơn rung nhĩ. Tuy nhiên, các dữ liệu hiện có chưa đưa ra được ngưỡng cụ thể về gánh nặng hoặc thời gian rung nhĩ để xác định mức tăng nguy cơ thuyên tắc mạch. Dữ liệu gợi ý rằng các cơn rung nhĩ kéo dài trên 17 đến 24 giờ gây ra nguy cơ đáng kể, trong khi nguy cơ liên quan đến các cơn ngắn hơn vẫn chưa chắc chắn. (Xem thêm phần ‘Nguy cơ thuyên tắc’ ở dưới.)
-
Xử trí – Việc xử trí rối loạn nhịp ở bệnh nhân rung nhĩ kịch phát tương tự như đối với quần thể bệnh nhân rung nhĩ nói chung. Các yếu tố quan trọng cần cân nhắc là thời gian rung nhĩ và sự hiện diện hay vắng mặt của các triệu chứng trong cơn. (Xem thêm phần ‘Xử trí’ ở dưới và “Rung nhĩ: Tổng quan và xử trí rung nhĩ mới khởi phát”.)
-
Thuốc chống đông – Đối với bệnh nhân rung nhĩ kịch phát, hướng tiếp cận để quyết định có nên dùng thuốc chống đông nhằm giảm nguy cơ thuyên tắc mạch hay không cũng tương tự như đối với bệnh nhân rung nhĩ kéo dài hoặc vĩnh viễn. (Xem thêm “Rung nhĩ ở người trưởng thành: Lựa chọn đối tượng dùng thuốc chống đông”, phần ‘Rung nhĩ kịch phát’.)
Gánh nặng rung nhĩ (thời gian và tần suất của các cơn) chỉ là yếu tố hỗ trợ ra quyết định cho một nhóm bệnh nhân chọn lọc mà ở đó sự cân bằng giữa lợi ích và nguy cơ của thuốc chống đông chưa rõ ràng, đồng thời cần nhận thức rằng việc ước tính chính xác gánh nặng rung nhĩ có thể gặp khó khăn, như đã được thảo luận riêng. (Xem thêm phần ‘Thuốc chống đông’ ở dưới.)