TÓM TẮT
Cơ chế bệnh sinh
Toan lactic là nguyên nhân phổ biến nhất gây toan chuyển hóa ở bệnh nhân nội trú. Tình trạng giảm oxy mô dẫn đến tăng chuyển hóa kỵ khí thường là nguyên nhân gây tăng sản xuất lactate. (Xem phần ‘Giới thiệu và định nghĩa’ ở dưới.)
Nồng độ lactate trong huyết tương vượt quá 4 mmol/L thường được định nghĩa là toan lactic, kể cả ở những bệnh nhân không có tình trạng toan máu hệ thống. (Xem phần ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
Sự tích tụ lactate thường do tăng sản xuất pyruvate; giảm chuyển hóa pyruvate thành carbon dioxide và nước hoặc thành glucose; và sự thay đổi trạng thái oxy hóa khử trong tế bào làm thay đổi tỷ lệ pyruvate/lactate nghiêng về phía lactate. (Xem phần ‘Sinh lý bệnh’ ở dưới.)
Nguyên nhân
- Toan lactic type A: Liên quan đến tình trạng giảm oxy mô do giảm tưới máu mô trong sốc (do giảm thể tích, suy tim hoặc nhiễm khuẩn huyết) hoặc là hậu quả của ngừng tim ngừng thở. Việc tăng tốc độ tạo pyruvate từ glucose cũng có thể đóng vai trò quan trọng trong một số thể toan lactic type A, đặc biệt là trong sốc nhiễm khuẩn. Ở một số bệnh nhân, tình trạng toan hô hấp đi kèm góp phần gây toan máu. (Xem phần ‘Toan lactic type A’ ở dưới.)
- Toan lactic type B: Xảy ra ở những bệnh nhân không có tình trạng giảm tưới máu hệ thống rõ rệt. Các nguyên nhân bao gồm: rối loạn chuyển hóa tế bào do độc chất, thiếu máu cục bộ tại một số vùng mô, nồng độ metformin cao, toan lactic liên quan đến bệnh lý ác tính, nghiện rượu và rối loạn chức năng ti thể do thuốc (thường gặp ở bệnh nhân nhiễm HIV). (Xem phần ‘Toan lactic type B’ ở dưới.)
- Toan D-lactic: Là một thể toan chuyển hóa hiếm gặp, xảy ra ở bệnh nhân hội chứng ruột ngắn hoặc các thể kém hấp thu khác. Tình trạng này cũng có thể tiến triển ở bệnh nhân truyền propylene glycol (dung môi của một số thuốc tiêm tĩnh mạch [IV]) liều cao và tốc độ nhanh, hoặc ở bệnh nhân toan ceton do đái tháo đường. (Xem phần ‘Toan D-lactic’ ở dưới và “Toan D-lactic”.)