Các vấn đề quan trọng về duy trì sức khỏe cho trẻ em và trẻ vị thành niên mắc bệnh viêm ruột (IBD)

TÓM TẮT

  • Theo dõi tình trạng dinh dưỡng – Suy giảm tăng trưởng là tình trạng thường gặp ở bệnh nhân viêm ruột (IBD), đặc biệt là những người mắc bệnh Crohn. Việc sàng lọc, theo dõi tình trạng tăng trưởng và tối ưu hóa dinh dưỡng là những thành phần thiết yếu trong quá trình chăm sóc dài hạn cho trẻ em và thanh thiếu niên mắc IBD (bảng 1). Những bất thường về các thông số này cũng là chỉ số nhạy cho thấy hoạt động tiềm tàng của IBD và đáp ứng với điều trị. (Xem thêm mục ‘Theo dõi tình trạng dinh dưỡng’ ở dưới và “Suy giảm tăng trưởng và chậm dậy ở trẻ em mắc bệnh viêm ruột”.)

  • Nguy cơ nhiễm trùng và tiêm chủng – Tình trạng tiêm chủng cần được đánh giá trước khi bắt đầu sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch. Quá trình đánh giá này bao gồm các bước sau:

    • Nguy cơ lao – Đánh giá các yếu tố nguy cơ mắc lao (TB) và xét nghiệm tìm nhiễm lao tiềm ẩn bằng xét nghiệm giải phóng interferon-gamma (IGRA) và thử nghiệm lẩy da Tuberculin; có thể kết hợp chụp X-quang ngực. (Xem thêm mục ‘Nguy cơ nhiễm trùng’ ở dưới.)

    • Hiệu giá kháng thể – Đo hiệu giá kháng thể sởi, xét nghiệm kháng nguyên và kháng thể bề mặt viêm gan B (HBsAg và HBsAb), đồng thời ghi nhận tình trạng miễn dịch với thủy đậu như được hướng dẫn trong bảng (bảng 3). (Xem thêm mục ‘Đo hiệu giá kháng thể’ ở dưới.)

      Nếu có chỉ định tiêm các vaccine sống giảm độc lực bao gồm thủy đậu hoặc sởi, việc tiêm chủng nên được thực hiện ít nhất bốn tuần trước khi bắt đầu liệu pháp ức chế miễn dịch. Nhìn chung, không nên tiêm vaccine sống cho bệnh nhân đang bị ức chế miễn dịch mức độ cao. Chiến lược tiêm chủng cho các bệnh này cần có những cân nhắc đặc biệt. (Xem thêm mục ‘Vaccine sống’ ở dưới.)

      Đối với bệnh nhân nhiễm virus viêm gan B (HBV) mạn tính (ví dụ: HBsAg+, Ag-), điều trị ức chế miễn dịch có thể làm tái hoạt hóa bệnh HBV. (Xem thêm mục ‘Đo hiệu giá kháng thể’ ở dưới.)

    • Vaccine bất hoạt – Rà soát tiền sử tiêm chủng và thực hiện tất cả các vaccine bất hoạt định kỳ khi cần thiết, bao gồm cúm, viêm gan B, virus HPV và phế cầu. Nếu có thể, nên ưu tiên hoàn tất việc tiêm bù hoặc tiêm nhắc lại trước khi bắt đầu ức chế miễn dịch. (Xem thêm mục ‘Vaccine bất hoạt định kỳ’ ở dưới.)

      Tiêm vaccine phế cầu polysaccharide 23 hóa trị (PPSV23) bên cạnh vaccine phế cầu cộng hợp tiêu chuẩn (PCV). Khuyến nghị này dựa trên lo ngại rằng bệnh nhân ức chế miễn dịch có nguy cơ cao phát triển bệnh phế cầu xâm lấn. (Xem thêm mục ‘Vaccine phế cầu’ ở dưới.)

    • Vaccine sống – Nhìn chung, không nên tiêm các vaccine sống (thủy đậu, sởi, rubella và sốt vàng da) cho bệnh nhân ức chế miễn dịch mức độ cao, bao gồm cả những người sử dụng các tác nhân sinh học như kháng thể kháng yếu tố hoại tử khối u (anti-TNF). (Xem thêm mục ‘Vaccine sống’‘Định nghĩa ức chế miễn dịch’ ở dưới.)

  • Bệnh lý về mắt – Thường xuyên sàng lọc viêm thượng củng mạc và viêm màng bồ đào bằng cách hỏi về các triệu chứng ở mắt và thăm khám củng mạc để tìm dấu hiệu xung huyết hoặc nốt sần trong mỗi lần tái khám lâm sàng. Khuyến cáo chuyển chuyên khoa mắt để khám toàn diện đối với những bệnh nhân có triệu chứng hoặc dấu hiệu gợi ý viêm thượng củng mạc, viêm màng bồ đào, cũng như những bệnh nhân điều trị glucocorticoid kéo dài. Việc khám mắt định kỳ khoảng 1 đến 2 năm một lần cũng được khuyến khích cho cả những bệnh nhân không có triệu chứng. (Xem thêm mục ‘Khám mắt’ ở dưới.)

  • Sàng lọc và hỗ trợ tâm lý – Trong quá trình chăm sóc định kỳ, cần hỏi về các triệu chứng trầm cảm và lo âu, bao gồm cả tình trạng nghỉ học quá nhiều, gián đoạn trong học tập, rối loạn giấc ngủ và mâu thuẫn gia đình. Bác sĩ lâm sàng nên chuyển bệnh nhân đến tư vấn và hỗ trợ tâm lý khi cần thiết. Những vấn đề này ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và gia đình, đồng thời có thể gây cản trở việc quản lý bệnh hiệu quả. (Xem thêm mục ‘Sàng lọc và hỗ trợ tâm lý’ ở dưới.)

  • Theo dõi ung thư – Bệnh nhân viêm loét đại tràng (UC) hoặc viêm đại tràng Crohn lan tỏa nên bắt đầu nội soi đại tràng theo dõi để sàng lọc ung thư sau khoảng 8 đến 10 năm kể từ khi chẩn đoán IBD, tốt nhất là trong giai đoạn bệnh ổn định. Những cá nhân mắc viêm đường mật xơ hóa nguyên phát (PSC) nên bắt đầu sàng lọc ung thư đại trực tràng hàng năm ngay khi được chẩn đoán PSC. (Xem thêm mục ‘Theo dõi ung thư’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here