Tình huống
Một phụ nữ 72 tuổi đến khám tại phòng khám phẫu thuật mạch máu để đánh giá tình trạng đau bụng mạn tính. Trong một năm qua, bà bị đau bụng co thắt dữ dội, thường bắt đầu sau khi ăn từ 30-45 phút và kéo dài trong 1-2 giờ. Bà đã dần hạn chế lượng thức ăn do sợ đau và báo cáo sụt cân không chủ ý 11 kg trong thời gian này. Bệnh nhân phủ nhận nôn, tiêu chảy, nôn ra máu hoặc xuất huyết tiêu hóa rõ rệt. Tiền sử bệnh bao gồm bệnh động mạch vành đã đặt hai stent, hẹp động mạch cảnh, tăng lipid máu và đái tháo đường tuýp 2 kiểm soát kém.
Bà từng hút thuốc trong 40 năm và đã bỏ cách đây 6 năm. BMI của bà là 18,4 kg/m2. Khi thăm khám, bệnh nhân có ấn đau nhẹ vùng thượng vị khi ấn sâu, không có dấu hiệu peritoneal. Không sờ thấy khối u trong bụng và nhu động ruột bình thường. Các xét nghiệm bao gồm tổng phân tích tế bào máu (CBC), bảng chuyển hóa toàn diện (CMP) và lipase đều trong giới hạn bình thường. Kết quả siêu âm bụng và CT bụng có cản quang gần đây do bác sĩ gia đình thực hiện được báo cáo là không có bất thường. Bước tiếp theo phù hợp nhất trong chẩn đoán là gì?