Tình huống
Một nam bệnh nhân 67 tuổi nhập viện vì đau bụng vùng thượng vị khởi phát cấp tính, kèm theo buồn nôn và nôn. Bệnh nhân vừa xuất viện 24 giờ trước sau khi được chụp mạch vành và đặt stent điều trị hẹp động mạch mũ trái. Bệnh nhân đang dùng các thuốc được kê đơn và không ghi nhận tình trạng đau ngực, khó thở hay đau hông lưng. Tiền sử bệnh lý bao gồm: đái tháo đường type 2, tăng huyết áp, tăng cholesterol máu và bệnh mạch máu ngoại biên. Bệnh nhân không hút thuốc lá, không uống rượu hay sử dụng chất kích thích.
Ghi nhận lúc nhập viện: Nhiệt độ 37,7°C, huyết áp 134/88 mmHg, mạch 92 lần/phút, nhịp thở 18 lần/phút. Bụng ấn đau vùng thượng vị, nhu động ruột giảm. Da vùng chi dưới và các ngón chân có biểu hiện nổi vân tím (livedo reticularis), dạng lưới màu đỏ tím, biến mất khi ấn vào.
Kết quả xét nghiệm:
- Công thức máu: Hemoglobin 13,1 g/dL, Tiểu cầu 206.000/mm3, Bạch cầu 12.300/mm3
- Hóa sinh máu: Creatinine 1,5 mg/dL (132,6 µmol/L)
- Chức năng gan: Bilirubin toàn phần 1,0 mg/dL (17,1 µmol/L), Alkaline phosphatase 125 U/L, AST 30 U/L, ALT 28 U/L
- Lipase 1.841 U/L
Hình ảnh học: Chụp CT bụng cho thấy tụy sưng nề lan tỏa. Siêu âm bụng cho thấy túi mật và ống mật chủ kích thước bình thường, không có sỏi. Cơn đau của bệnh nhân cải thiện sau khi dùng morphine tiêm tĩnh mạch.
Phương pháp điều trị nào sau đây là phù hợp nhất cho bệnh nhân này?