Tình huống
Một nam thiếu niên 16 tuổi được đưa đến khoa cấp cứu sau một vụ đuối nước tại hồ bơi. Bệnh nhân lặn xuống nước, đập đầu vào đáy hồ và bị mất ý thức. Bệnh nhân được kéo ra khỏi nước ngay sau đó và mất khoảng 2 phút để tỉnh lại. Khi đến viện, bệnh nhân tỉnh táo và đáp ứng tốt. Nhiệt độ 36,8°C, mạch 88 lần/phút, nhịp thở 15 lần/phút và huyết áp 124/68 mm Hg. Đo bão hòa oxy qua da với khí phòng cho thấy SpO2 là 94%. Chụp CT đầu và X-quang ngực không phát hiện bất thường. Sáu giờ sau, bệnh nhân bị khó thở và lú lẫn. Đo bão hòa oxy khi thở oxy 100% với lưu lượng 15 L/phút qua mặt nạ không thở lại cho thấy SpO2 là 85%. X-quang ngực cho thấy thâm nhiễm lan tỏa hai bên với hình ảnh phế quản đồ khí (air bronchograms). Bệnh nhân được đặt nội khí quản và thở máy với FiO2 0,9, PEEP 8 cm H2O, thể tích lưu thông (tidal volume) 408 mL (6 mL/kg) và tần số thở 20 lần/phút. Ngày hôm sau, kết quả phân tích khí máu động mạch cho thấy:
- pH: 7,33
- pCO2: 47 mm Hg
- pO2: 140 mm Hg
- Bão hòa O2: 100%
Với các thiết lập thông khí cơ học hiện tại, bệnh nhân này có nguy cơ cao nhất phát triển tình trạng nào sau đây?