Tình huống
Một người đàn ông 41 tuổi đến khám vì tình trạng phù chân tăng dần trong 6 tuần qua. Bệnh nhân cũng cảm thấy mệt mỏi nhưng không khó thở, không khó thở khi nằm (orthopnea) và không đau ngực. Bệnh nhân được chẩn đoán nhiễm HIV trong một lần sàng lọc 4 năm trước nhưng không điều trị. Tuy nhiên, kể từ khi nhập viện vì viêm phổi do Pneumocystis jirovecii 3 tháng trước, ông đã bắt đầu điều trị bằng liệu pháp kháng virus (ART) và dùng trimethoprim-sulfamethoxazole để dự phòng. Các dấu hiệu sinh tồn ghi nhận: nhiệt độ 36,7°C, huyết áp 120/82 mmHg, nhịp thở 16 lần/phút. Khám thực thể cho thấy tiếng tim và phổi bình thường, bụng không đau, không gan lách to và không có phát ban. Có phù ấn lõm 2+ ở hai chi dưới. Kết quả xét nghiệm như sau:
- Hemoglobin: 12,5 g/dL
- Bạch cầu: 6.000/mm³
- Tiểu cầu: 190.000/mm³
- Natri: 135 mEq/L
- Kali: 4,9 mEq/L
- Blood urea nitrogen (BUN): 28 mg/dL
- Creatinine: 2,4 mg/dL (4 tháng trước: 1,2 mg/dL)
Xét nghiệm nước tiểu cho thấy protein 3+ và nhiều thể trứng mỡ (oval fat bodies), không có bất thường khác. Số lượng tế bào CD4 là 170/mm³ và tải lượng virus HIV là 30.000 copies/mL. Nguyên nhân nào sau đây là khả năng cao nhất gây ra tình trạng hiện tại của bệnh nhân này?