Tình huống
Một người đàn ông 70 tuổi đến khoa cấp cứu vì đau bàn chân phải khởi phát một ngày trước đó. Bệnh nhân có tiền sử 2 năm bị đi khập khiễng cách hồi (intermittent claudication) bên phải do bệnh động mạch ngoại vi. Tiền sử bệnh lý đáng chú ý bao gồm tăng huyết áp, đái tháo đường type 2 và bệnh thận mạn tính. Bệnh nhân có tiền sử hút thuốc lá một gói/ngày trong 50 năm và đã bỏ thuốc cách đây 2 năm. Ghi nhận huyết áp 142/92 mmHg và mạch 110 lần/phút. Bàn chân phải lạnh, nhợt nhạt, thời gian đổ đầy mao mạch chậm; không bắt được mạch mu chân và mạch chày sau. Bệnh nhân được nhập viện và điều trị truyền heparin tĩnh mạch. Kết quả chụp động mạch chi dưới khẩn cấp cho thấy phình động mạch khoeo phải kèm huyết khối tắc nghẽn, sau đó bệnh nhân được phẫu thuật lấy huyết khối. Một ngày sau, bệnh nhân được phát hiện có chức năng thận suy giảm đáng kể. Xem lại hồ sơ cho thấy huyết áp không có thay đổi đáng kể trong thời gian nằm viện. Kết quả xét nghiệm như sau:
Ngày nhập viện | Ngày 2 | Ngày 3
Nitơ urê máu (BUN): 16 mg/dL | 38 mg/dL | 44 mg/dL
Creatinine huyết thanh: 1.5 mg/dL | 1.8 mg/dL | 2.3 mg/dL
Xét nghiệm nước tiểu cho thấy protein 1+, không có máu, bạch cầu hoặc hồng cầu. Soi kính hiển vi nước tiểu phát hiện một vài trụ hạt màu nâu bùn (muddy brown casts). Chẩn đoán nào sau đây là khả thi nhất?