Tình huống
Một thai phụ 32 tuổi, mang thai lần đầu, đến khám định kỳ ở tuần thai thứ 28. Bệnh nhân được chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ ở tuần thứ 25 và được điều trị bằng chế độ ăn. Bệnh nhân tuân thủ chế độ ăn ít carbohydrate, chia làm 3 bữa chính và 2 bữa phụ mỗi ngày theo khuyến cáo của chuyên gia dinh dưỡng. Trong 3 tuần qua, mức đường huyết lúc đói dao động từ 6,1 – 7,2 mmol/L (110 – 130 mg/dL) và hầu hết mức đường huyết sau ăn 2 giờ đều > 7,8 mmol/L (140 mg/dL). Khi hỏi bệnh, bệnh nhân không ghi nhận triệu chứng tiểu nhiều hay khát nhiều. Chỉ số BMI là 38 kg/m². Huyết áp 134/80 mmHg, mạch 76 lần/phút. Thăm khám thể chất không phát hiện bất thường. Kết quả xét nghiệm nước tiểu: màu vàng, glucose âm tính, protein âm tính. Mặc dù đã áp dụng liệu pháp dinh dưỡng, mức đường huyết sau ăn 2 giờ của bệnh nhân vẫn duy trì > 7,8 mmol/L. Đến tuần thai thứ 37, siêu âm ước tính cân nặng thai nhi là 4 kg. Tại tuần thai thứ 38, bệnh nhân nhập viện do chuyển dạ tự nhiên; giai đoạn rặn đẻ kéo dài 3 giờ. Sau khi đầu thai nhi sổ ra ngoài, vai trước không thể sổ được. Phát hiện có dây rốn quấn cổ chặt. Bác sĩ yêu cầu bệnh nhân ngừng rặn. Bước xử trí tiếp theo tốt nhất cho bệnh nhân này là gì?