TÓM TẮT
Quyết định xử trí ban đầu – Đối với những bệnh nhân rung nhĩ (AF) được lựa chọn chiến lược kiểm soát nhịp, mục tiêu chính là giảm triệu chứng thông qua việc giảm tần suất và thời gian của các cơn 1,2. (Xem thêm ‘Quyết định xử trí ban đầu’ ở dưới.)
Lựa chọn thuốc chống loạn nhịp – (Xem thêm ‘Lựa chọn thuốc chống loạn nhịp’ ở dưới.)
Thuốc chẹn beta có hiệu quả khiêm tốn trong việc duy trì nhịp xoang và có thể được thử nghiệm đầu tiên ở những bệnh nhân được chọn lọc, chẳng hạn như những người không có bệnh tim cấu trúc và lo ngại về nguy cơ gây loạn nhịp do thuốc.
So với placebo, amiodarone, sotalol, dofetilide, dronedarone, flecainide và propafenone đều có hiệu quả trong việc duy trì nhịp xoang, tuy nhiên tỷ lệ duy trì sau một năm thấp hơn 75% một cách đáng kể. Amiodarone luôn cho thấy hiệu quả cao hơn so với các thuốc chống loạn nhịp khác.
Loạn nhịp do thuốc và tỷ lệ tử vong – Bên cạnh hiệu quả chưa tối ưu, các tác dụng phụ nghiêm trọng liên quan đến thuốc cũng hạn chế việc sử dụng nhóm thuốc này. Liệu pháp thuốc chống loạn nhịp chỉ nên được chỉ định bởi các bác sĩ có kinh nghiệm lâm sàng về việc sử dụng chúng. Bệnh nhân cần được thông tin đầy đủ về cả lợi ích và rủi ro khi dùng thuốc. (Xem thêm ‘Loạn nhịp do thuốc và tỷ lệ tử vong’ ở dưới.)
Khởi trị nội trú và ngoại trú – Do tiềm năng gây độc tính của thuốc dưới dạng gây chậm nhịp tim hoặc nhịp nhanh, nhiều bệnh nhân cần nhập viện để theo dõi điện tâm đồ liên tục. Dofetilide bắt buộc phải được khởi trị trong điều kiện theo dõi liên tục. (Xem thêm ‘Khởi trị nội trú và ngoại trú’ ở dưới.)
Lựa chọn thuốc chống loạn nhịp
- Rung nhĩ không có bệnh tim cấu trúc – Đối với bệnh nhân không có bệnh tim cấu trúc và không có nguy cơ rõ ràng gây chậm nhịp hoặc nhịp nhanh do thuốc, chúng tôi đề xuất flecainide hoặc propafenone là lựa chọn ưu tiên (Khuyến cáo 2B). Amiodarone, dofetilide, dronedarone hoặc sotalol cũng có thể được sử dụng, trong đó sotalol thường được các tác giả và người bình duyệt của chúng tôi lựa chọn nhiều hơn. Các bác sĩ lâm sàng chỉ nên chọn những thuốc mà họ có kinh nghiệm sử dụng sâu rộng. (Xem thêm ‘Rung nhĩ không có bệnh tim cấu trúc’ ở dưới.)
- Bệnh động mạch vành – Đối với bệnh nhân bệnh động mạch vành không có suy tim giai đoạn tiến triển, chúng tôi đề xuất ưu tiên dùng dronedarone hoặc sotalol hơn amiodarone (Khuyến cáo 2B). Amiodarone là lựa chọn hợp lý cho những bệnh nhân ưu tiên hiệu quả cao hơn mặc dù có nhiều tác dụng phụ ngoài tim hơn. (Xem thêm ‘Bệnh tim thiếu máu cục bộ’ ở dưới.)
- Suy tim – Đối với bệnh nhân suy tim, chúng tôi đề xuất ưu tiên dùng amiodarone hơn dofetilide (Khuyến cáo 2B). Flecainide, propafenone, dronedarone và sotalol chống chỉ định cho những bệnh nhân này. (Xem thêm ‘Suy tim’ ở dưới.)
- Phì đại thất trái – Đối với bệnh nhân phì đại thất trái, amiodarone hoặc dronedarone thường được ưu tiên hơn các thuốc chống loạn nhịp khác. Các tác giả và người bình duyệt của chúng tôi có những tiếp cận khác nhau, một số chọn amiodarone thường xuyên hơn và số khác chọn dronedarone thường xuyên hơn. (Xem thêm ‘Phì đại thất trái’ ở dưới.)
- Theo dõi di động – Sau khi khởi trị liệu pháp thuốc chống loạn nhịp, nên cân nhắc sàng lọc các loạn nhịp liên quan đến thuốc bằng theo dõi di động (ambulatory monitoring), đặc biệt đối với những bệnh nhân có nguy cơ cao. Nhóm này bao gồm những người có chậm nhịp tim cơ bản, kéo dài khoảng QT ngưỡng, suy tim hoặc rối loạn chức năng tâm thu thất trái. (Xem thêm ‘Theo dõi di động’ ở dưới.)