TÓM TẮT
Yếu tố dự báo hội chứng cai – Các yếu tố dự báo sự phát triển của hội chứng cai ở bệnh nhân rối loạn sử dụng rượu bao gồm lượng rượu tiêu thụ trong mỗi lần uống nhiều hơn và sự hiện diện của nhiều vấn đề liên quan đến rượu; điều này thường liên quan đến mức độ lệ thuộc sinh lý cao hơn.
Khoảng một nửa số bệnh nhân rối loạn sử dụng rượu gặp hội chứng cai khi họ giảm hoặc ngừng uống. Những bệnh nhân không xuất hiện triệu chứng cai sau 24 giờ ngừng uống thường ít có khả năng tiến triển thành hội chứng cai rượu. (Xem thêm ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Biểu hiện lâm sàng và diễn tiến – Nếu không được điều trị, các triệu chứng cai rượu thường bắt đầu trong vòng 6 đến 24 giờ sau lần uống cuối cùng hoặc sau khi giảm đột ngột lượng rượu uống mạn tính (bảng 1). (Xem thêm ‘Biểu hiện lâm sàng và diễn tiến’ ở dưới.)
Hội chứng cai nhẹ – Các triệu chứng cai nhẹ bao gồm lo âu, kích động, bồn chồn, mất ngủ, run, vã mồ hôi, đánh trống ngực, đau đầu và thèm rượu; thường kèm theo chán ăn, buồn nôn và nôn. Các dấu hiệu thực thể bao gồm nhịp tim nhanh, tăng huyết áp, phản xạ tăng và run. (Xem thêm ‘Hội chứng cai nhẹ’ ở dưới.)
Hội chứng cai rượu nặng – Các biểu hiện nặng của cai rượu xảy ra ở khoảng 20% bệnh nhân có triệu chứng cai, ví dụ như ảo giác, co giật và sảng run. Co giật và sảng do cai rượu đôi khi được nhóm chung vào hội chứng cai rượu nặng. (Xem thêm ‘Ảo giác do rượu’, ‘Co giật do cai rượu’ và ‘Sảng do cai rượu’ ở dưới.)
Tiền sử từng sảng run hoặc co giật dường như là yếu tố dự báo cho hội chứng cai rượu nặng sau này; Thang điểm Dự báo Mức độ Nặng của Cai Rượu (Prediction of Alcohol Withdrawal Severity Scale) có thể hữu ích trong việc đánh giá nguy cơ của bệnh nhân, mặc dù hiện chưa được sử dụng rộng rãi. (Xem thêm ‘Hội chứng cai rượu nặng’ ở dưới.)
Đánh giá – Chúng tôi thực hiện đánh giá toàn diện việc sử dụng chất ở tất cả các cá nhân có nguy cơ cai rượu. Quá trình này bao gồm đánh giá việc sử dụng gần đây, lần cuối cùng sử dụng, tiền sử điều trị, khám thực thể, xét nghiệm cận lâm sàng và theo dõi định kỳ điểm mức độ nặng của hội chứng cai bằng Thang điểm đánh giá cai rượu CIWA (Clinical Institutes Withdrawal Assessment Scale for Alcohol) (bảng 3). (Xem thêm ‘Đánh giá’ ở dưới.)
Xác định mức độ chăm sóc cần thiết để quản lý cai rượu phù hợp là mục tiêu then chốt trong đánh giá bệnh nhân. Các bước để xác định mức độ chăm sóc bao gồm: đánh giá khả năng xảy ra hội chứng cai nặng, đánh giá các bệnh lý nội khoa cấp tính hoặc mạn tính đi kèm và xác định mức độ hỗ trợ tại nhà. Những bệnh nhân có khả năng cai từ hai chất trở lên có thể cần được quản lý tại bệnh viện (nội trú).
Chẩn đoán – Chẩn đoán cai rượu có thể được thực hiện theo tiêu chuẩn chẩn đoán của Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần, Phiên bản thứ 5, Bản hiệu đính (DSM-5-TR) của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ. Cai rượu có chẩn đoán phân biệt rộng tùy thuộc vào biểu hiện lâm sàng của các triệu chứng cai sớm, co giật do cai, ảo giác và/hoặc sảng, do đó lâm sàng cần cảnh giác với các tình trạng bệnh lý nội khoa cấp tính nghiêm trọng cùng tồn tại. (Xem thêm ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)