Rủi ro nghề nghiệp và môi trường đối với sinh sản ở nữ giới: Các phơi nhiễm cụ thể và tác động

TÓM TẮT

  • Những thách thức trong tư vấn và hạn chế về dữ liệu – Việc tư vấn cho phụ nữ về tác động của các tác nhân hóa học đối với khả năng sinh sản gặp nhiều khó khăn do số lượng các chất tiếp xúc và sự kết hợp giữa chúng rất đa dạng; dữ liệu từ động vật có giá trị ứng dụng hạn chế trên người; khó có thể khẳng định mối quan hệ nhân quả từ các mối liên hệ quan sát được; liều lượng và thời điểm tiếp xúc ảnh hưởng khác nhau đến kết cục sinh sản và phát triển; cùng với nhiều biến số gây nhiễu (ví dụ: thói quen sử dụng chất gây nghiện của mẹ, trình độ kinh tế xã hội, dinh dưỡng). (Xem thêm phần ‘Những thách thức trong lâm sàng và tư vấn’ ở dưới.)

  • Giảm thiểu và quản lý tiếp xúc – Để giúp giảm thiểu nguy cơ tiếp xúc từ môi trường, chúng tôi thảo luận về các biện pháp phòng ngừa, đánh giá các rủi ro tiếp xúc tiềm ẩn, phân tích tác động của các tác nhân đã xác định, đồng thời cung cấp thông tin và các nguồn tư vấn cho bệnh nhân. (Xem thêm phần ‘Tiếp cận của chúng tôi’ ở dưới.)

  • Chì – Chì, dưới dạng chì vô cơ, là một tác nhân thường gặp (bảng 1). Chì vô cơ có thể hấp thu qua đường tiêu hóa (nuốt phải) hoặc đường hô hấp (hít phải). Tiếp xúc với chì ở người mẹ dường như làm tăng nguy cơ sảy thai tự nhiên, sinh non, trẻ sinh ra nhẹ cân so với tuổi thai, đồng thời tác động tiêu cực đến chức năng hành vi thần kinh và phát triển nhận thức. Chúng tôi khuyến cáo hỏi tất cả phụ nữ mang thai về khả năng tiếp xúc với chì và chỉ định xét nghiệm nồng độ chì trong máu tĩnh mạch ngay cả khi nghi ngờ thấp (bảng 2). (Xem thêm phần ‘Chì’ ở dưới.)

  • Thủy ngân – Tiếp xúc với thủy ngân thường đến từ methyl thủy ngân hữu cơ (qua ăn cá) và thủy ngân nguyên tố (từ trám răng amalgam và khai thác vàng thủ công). Việc tiếp xúc với methyl thủy ngân trong thời kỳ bào thai với liều lượng đủ lớn có thể gây tổn thương thần kinh. (Xem thêm phần ‘Thủy ngân’ ở dưới.)

  • Asen – Asen là một nguyên tố tự nhiên trong vỏ Trái Đất, có thể hòa tan vào nước uống và đôi khi trong thực phẩm như gạo (tuy nhiên liều lượng trong gạo thường thấp). Có các nguy cơ tiếp xúc nghề nghiệp (như trong lò luyện kim, khai thác mỏ) và tiếp xúc môi trường (thường do nguồn nước uống ô nhiễm). Nồng độ asen cao trong nước uống có liên quan đến việc tăng nguy cơ sảy thai tự nhiên, thai chết lưu, tử vong sơ sinh và tiềm ẩn nguy cơ gia tăng một số loại ung thư trong tương lai. (Xem thêm phần ‘Asen’ ở dưới.)

  • Nhựa (bao gồm phthalates và phenols) – Nhựa, bao gồm phthalates và phenols (ví dụ: bisphenol A), là các hóa chất tổng hợp được sử dụng rộng rãi trong nhiều ứng dụng công nghiệp và tiêu dùng, thường đóng vai trò là chất làm dẻo hoặc dung môi. Các tác nhân này được coi là hóa chất gây rối loạn nội tiết; các nghiên cứu ban đầu cho thấy chúng tác động tiêu cực đến khả năng sinh sản, kết cục sinh sản và sự phát triển của thai nhi. (Xem thêm phần ‘Nhựa’ ở dưới.)

  • Chất chống cháy tổng hợp – Chất chống cháy tổng hợp được ứng dụng rộng rãi trong dệt may, đồ nội thất, bọc ghế, thảm, thiết bị điện tử và vật liệu xây dựng. Có hàng trăm loại chất chống cháy khác nhau với cấu trúc hóa học riêng biệt được sử dụng trong 40 năm qua. Mặc dù nghiên cứu trên động vật cho thấy một số chất có thể gây độc tính sinh sản và phát triển thần kinh cũng như các tác dụng bất lợi không liên quan đến sinh sản khác, nhưng dữ liệu trên người còn hạn chế. (Xem thêm phần ‘Chất chống cháy’ ở dưới.)

  • Thuốc trừ sâu – Thuốc trừ sâu bao gồm thuốc diệt côn trùng, thuốc diệt cỏ và thuốc diệt nấm. Organochlorines, loại thuốc diệt côn trùng tổng hợp đầu tiên, bao gồm dichlorodiphenyltrichloroethane (DDT), chlordane và methoxychlor. Organochlorines can thiệp vào các kênh natri của dây thần kinh và từng được dùng rộng rãi để kiểm soát muỗi, nhưng sau đó bị cấm do độc tính thần kinh nghiêm trọng đối với các sinh vật sống khác, không chỉ riêng côn trùng. Có bằng chứng từ động vật và dịch tễ học cho thấy các thuốc diệt côn trùng không phải DDT tác động bất lợi đến sự phát triển thần kinh. Các tác động tiêu cực đến sinh sản bao gồm giảm cân nặng khi sinh, giảm tuổi thai khi sinh cũng như gây giảm khả năng sinh sản ở nam giới. (Xem thêm phần ‘Thuốc trừ sâu’ ở dưới.)

  • Các chất perfluoroalkyl (PFAS) – Các chất perfluoroalkyl (PFAS), còn được gọi là PFCs, được sử dụng trong dụng cụ nấu ăn chống dính, thảm, chất chống bám bẩn cho quần áo, bọt chữa cháy AFFF, bao bì chống dính và nhiều quy trình công nghiệp khác nhau. Việc tiếp xúc đáng kể đã được ghi nhận trong các nguồn nước uống ô nhiễm. Các nghiên cứu ban đầu cho thấy mối liên hệ giữa nồng độ PFAS cao trong máu mẹ và máu cuống rốn (chủ yếu là perfluorooctane sulfonate [PFOS] và perfluorooctanoate [PFOA]) với việc giảm cân nặng khi sinh. Nhiều nghiên cứu hiện vẫn đang được tiến hành. (Xem thêm phần ‘Các chất perfluoroalkyl (PFAS)’ ở dưới.)

  • Ô nhiễm không khí – Có bằng chứng cho thấy việc tiếp xúc kéo dài với ô nhiễm không khí ở mức độ thấp có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng bằng cách làm tăng nguy cơ bệnh tật và tử vong do bệnh tim mạch và phổi. Một số đánh giá hệ thống về sức khỏe sinh sản và ô nhiễm không khí đã chứng minh sự gia tăng nguy cơ thai chết lưu, trẻ nhẹ cân và giảm cân nặng khi sinh tỷ lệ thuận với mức độ tiếp xúc. (Xem thêm phần ‘Ô nhiễm không khí’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here