TÓM TẮT
Điều trị đột quỵ chu sinh chủ yếu là điều trị hỗ trợ. Cần đảm bảo thông khí và oxy hóa đầy đủ. Đồng thời, điều trị tình trạng mất nước và thiếu máu. Theo dõi và điều chỉnh các rối loạn chuyển hóa như toan chuyển hóa, hạ đường huyết, hạ canxi máu hoặc rối loạn điện giải. Nếu nghi ngờ nhiễm trùng, cần khởi động điều trị kháng sinh cho đến khi có kết quả nuôi cấy. Các cơn co giật cần được kiểm soát bằng thuốc chống co giật (Xem mục ‘Điều trị’ ở dưới).
Hầu hết các trường hợp đột quỵ do thuyên tắc huyết khối ở trẻ nhũ nhi không tái phát hoặc tiến triển. Tuy nhiên, đối với trẻ sơ sinh có hoặc có nguy cơ tái phát đột quỵ nhồi máu động mạch do các yếu tố nguy cơ tim mạch hoặc hệ thống đã được xác định, chúng tôi đề nghị điều trị bằng liệu pháp chống huyết khối sử dụng aspirin, heparin không phân đoạn hoặc heparin trọng lượng phân tử thấp (Khuyến cáo 2C). (Xem mục ‘Điều trị đột quỵ nhồi máu động mạch’ ở dưới).
Đối với trẻ sơ sinh có huyết khối tĩnh mạch xoang não cấp tính (CSVT), dù có hoặc không kèm theo xuất huyết thứ phát đáng kể, chúng tôi đề nghị điều trị chống đông bằng heparin không phân đoạn hoặc heparin trọng lượng phân tử thấp (Khuyến cáo 2C). (Xem mục ‘Điều trị CSVT’ ở dưới).
Đối với trẻ sơ sinh xuất huyết nội sọ, các can thiệp phù hợp bao gồm: điều chỉnh tình trạng giảm tiểu cầu nặng, bù các yếu tố đông máu thiếu hụt, dùng vitamin K cho tất cả bệnh nhân, và dẫn lưu não thất đối với những trường hợp tiến triển thành não úng thủy, sau đó đặt shunt nếu tình trạng não úng thủy kéo dài. (Xem mục ‘Điều trị xuất huyết nội sọ’ ở dưới).
Đột quỵ chu sinh có thể gây ra các di chứng dài hạn về chức năng vận động (bao gồm cả bại não), nhận thức, ngôn ngữ, hành vi, tâm trạng, thị giác cũng như động kinh. Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh tật và tử vong có sự khác biệt lớn, tùy thuộc một phần vào vị trí và phạm vi tổn thương não. (Xem mục ‘Tiên lượng’ ở dưới).