Hội chứng Hermansky-Pudlak

TÓM TẮT

Định nghĩa – Hội chứng Hermansky-Pudlak (HPS) là một rối loạn di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường hiếm gặp, đặc trưng bởi tình trạng bạch tạng da và mắt, xu hướng xuất huyết và tổn thương các cơ quan khác, bao gồm xơ phổi và viêm đại tràng hạt (tùy theo từng thể bệnh). Tỷ lệ hiện mắc HPS cao tại vùng Tây Bắc Puerto Rico (1/1800). (Xem thêm mục ‘Giới thiệu’‘Dịch tễ học’ ở dưới.)

Cơ chế bệnh sinh – HPS gây ra bởi các đột biến gen liên quan đến quá trình vận chuyển protein nội bào và sinh tổng hợp các bào quan liên quan đến lysosome trong nhiều loại mô khác nhau (bảng 1). Tình trạng giảm sắc tố trong HPS là hậu quả của việc suy giảm hình thành, vận chuyển hoặc chuyển giao melanosome đến tế bào sừng, trong khi quá trình sinh tổng hợp melanin không bị ảnh hưởng. Xu hướng xuất huyết xảy ra do thiếu hụt các thể đặc (dense bodies) trong tiểu cầu, vốn đóng vai trò quan trọng trong quá trình tập kết tiểu cầu thứ phát. (Xem thêm mục ‘Cơ chế bệnh sinh’ ở dưới.)

Biểu hiện lâm sàng – Tất cả bệnh nhân HPS đều có biểu hiện bạch tạng da và mắt (hình 2) và xu hướng xuất huyết. Xơ phổi, tương tự như xơ phổi vô căn, xuất hiện ở bệnh nhân HPS thể 1, 2 và 4. Viêm đại tràng hạt có biểu hiện lâm sàng và mô bệnh học tương tự bệnh Crohn xảy ra ở bệnh nhân HPS thể 1 và 4, đôi khi gặp ở các thể phụ khác. Tình trạng giảm bạch cầu trung tính nặng và suy giảm miễn dịch đã được báo cáo ở những người mắc HPS thể 2 và 10. Bệnh nhân HPS cũng có nguy cơ ung thư da cao hơn, đặc biệt là ung thư biểu mô tế bào vảy và ung thư biểu mô tế bào đáy. (Xem thêm mục ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

Chẩn đoán – Nghi ngờ HPS ở bệnh nhân có màu da và tóc nhạt hơn các thành viên khác trong gia đình, rung giật nhãn cầu khởi phát sớm, tiền sử dễ bầm tím từ thời thơ ấu, chảy máu cam, chảy máu nướu hoặc chảy máu quá mức sau các thủ thuật y khoa hoặc phẫu thuật. Việc xác định thiếu hụt các thể đặc trên hiển vi điện tử của tiểu cầu bằng kỹ thuật “whole mount” (có tại các phòng xét nghiệm chuyên sâu) giúp thiết lập chẩn đoán HPS. Xét nghiệm di truyền, nếu có, có thể xác nhận chẩn đoán và phân loại thể HPS. (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)

Điều trị và quản lý – Quản lý bệnh nhân HPS cần sự phối hợp đa chuyên khoa, bao gồm (xem thêm mục ‘Điều trị và quản lý’ ở dưới):

  • Áp dụng các biện pháp bảo vệ da khỏi ánh nắng mặt trời suốt đời và khám da định kỳ mỗi 6 đến 12 tháng, bắt đầu từ tuổi thiếu niên, để phát hiện và điều trị sớm ung thư da.
  • Khám mắt thường xuyên trong những năm trước tuổi đi học, sau đó có thể giảm tần suất xuống một lần mỗi năm. Các tật khúc xạ được điều chỉnh bằng kính gọng hoặc kính áp tròng. Có thể cần phẫu thuật cơ vận nhãn để điều chỉnh lác hoặc rung giật nhãn cầu. Khuyến khích có sự hỗ trợ phù hợp tại trường học.
  • Viêm đại tràng hạt được điều trị bằng corticosteroid toàn thân và các thuốc chống viêm khác tương tự phác đồ điều trị bệnh Crohn. (Xem thêm “Điều trị nội khoa bệnh Crohn mức độ trung bình đến nặng ở người trưởng thành”.)
  • Bệnh nhân HPS tiến triển xơ phổi cần được chuyển sớm đến trung tâm ghép tạng vì có thể sẽ cần ghép phổi trong tương lai. (Xem thêm “Điều trị xơ phổi vô căn”.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here