TÓM TẮT
Về mặt lịch sử, thuật ngữ “liệt mềm cấp tính” (AFP) được dùng để mô tả bất kỳ hội chứng yếu vận động cấp tính nào do tổn thương tế bào sừng trước tủy sống bởi các tình trạng nhiễm trùng hoặc viêm. Nguyên nhân điển hình trong lịch sử là bệnh bại liệt. Từ năm 2014, một thuật ngữ tương tự là “viêm tủy liệt mềm cấp tính” (AFM) được sử dụng để mô tả một tình trạng bệnh lý đặc thù, được ghi nhận trong các đợt bùng phát hai năm một lần tại Hoa Kỳ và Châu Âu, có liên quan đến enterovirus D68 lưu hành. (Xem thêm ‘Lịch sử và thuật ngữ’ ở dưới.)
Việc chứng minh enterovirus D68 là nguyên nhân gây ra AFM gặp nhiều khó khăn do không thể phân lập được virus trong dịch não tủy (CSF) của bệnh nhân. Tuy nhiên, sự xuất hiện tập trung các ca AFM trùng với thời điểm lưu hành enterovirus D68, cùng với việc phát hiện enterovirus D68 qua phết dịch tỵ hầu ở hầu hết các trường hợp, đã củng cố mối liên hệ này. (Xem thêm ‘Bệnh sinh và căn nguyên’ ở dưới.)
AFM là bệnh lý hiếm gặp, đa số các trường hợp xảy ra ở trẻ nhỏ. (Xem thêm ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Các đặc điểm điển hình của AFM bao gồm:
- Tình trạng sốt hoặc bệnh lý hô hấp trước khi khởi phát các triệu chứng thần kinh.
- Yếu chi liệt mềm cấp tính với tiến triển yếu dần trong vài giờ đến vài ngày.
- Hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) cho thấy tổn thương chủ yếu ở chất xám tủy sống.
(Xem thêm ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới.)
Chẩn đoán AFM đòi hỏi một kiểu hình lâm sàng bao gồm yếu liệt mềm cấp tính và kết quả MRI tủy sống cho thấy tổn thương chủ yếu ở chất xám. Các xét nghiệm tiêu chuẩn cho bệnh nhân nghi ngờ AFM bao gồm:
- MRI cột sống cổ và ngực (có và không tiêm thuốc tương phản).
- MRI não (có và không tiêm thuốc tương phản).
- Phân tích dịch não tủy (CSF).
- Phết dịch tỵ hầu và mẫu phân để xét nghiệm virus.
- Xét nghiệm huyết thanh tìm các bệnh lý mô phỏng.
- Thăm dò điện sinh lý trong một số trường hợp.
(Xem thêm ‘Tiếp cận chẩn đoán’ ở dưới.)
Tất cả các trường hợp nghi ngờ AFM cần được báo cáo cho các cơ quan y tế địa phương và tiểu bang. (Xem thêm ‘Báo cáo ca bệnh’ ở dưới.)
Chẩn đoán phân biệt AFM bao gồm một loạt các nguyên nhân nhiễm trùng và không nhiễm trùng gây ra AFP (bảng 3). (Xem thêm ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)
Điều trị AFM bao gồm chăm sóc hỗ trợ. Các liệu pháp điều hòa miễn dịch đối với AFM không cho thấy dấu hiệu hiệu quả rõ rệt, mặc dù bằng chứng hiện tại còn hạn chế, chủ yếu dựa trên kinh nghiệm lâm sàng và các báo cáo hồi cứu. Điều trị dài hạn bao gồm phục hồi chức năng cường độ cao và có thể cân nhắc phẫu thuật chuyển dây thần kinh ở một số bệnh nhân chọn lọc. (Xem thêm ‘Điều trị’ ở dưới.)
Các nghiên cứu về kết cục ngắn hạn ghi nhận tình trạng khiếm khuyết thần kinh kéo dài ở hầu hết trẻ em mắc AFM. Chức năng vận động có thể hồi phục theo thời gian, nhưng đòi hỏi một phương pháp tiếp cận nhất quán và sự kiên trì trong phục hồi chức năng. (Xem thêm ‘Tiên lượng’ ở dưới.)