TÓM TẮT
Bối cảnh – Việc áp dụng khái niệm chủng tộc và sắc tộc trong y khoa thường dựa trên giả định sai lầm về cơ sở sinh học. Chủng tộc và sắc tộc thực chất là các khái niệm xã hội, không cung cấp lời giải thích về nguyên nhân cho các tình trạng sức khỏe và kết quả điều trị quan sát được (Xem phần ‘Bối cảnh’ ở dưới).
Thuật ngữ – Các thuật ngữ chính được mô tả chi tiết trong bảng (bảng 1).
Chủng tộc là yếu tố thay thế cho các yếu tố nguy cơ khác – Sự khác biệt về tình trạng sức khỏe và kết quả điều trị giữa các nhóm theo chủng tộc hoặc sắc tộc thường bị gán sai cho các đặc điểm sinh học bẩm sinh. Tuy nhiên, những khác biệt này thường do các yếu tố khác thúc đẩy, bao gồm các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe (SDOH), yếu tố nguy cơ về văn hóa/lối sống, sự phơi nhiễm khác nhau ở cấp độ cộng đồng, tác động của phân biệt chủng tộc, hoặc (hiếm khi) là do sự khác biệt về tỷ lệ lưu hành của một số yếu tố nguy cơ di truyền (Xem phần ‘Chủng tộc là yếu tố thay thế cho các yếu tố nguy cơ khác’ ở dưới).
Tác động của phân biệt chủng tộc – Bản thân phân biệt chủng tộc là một yếu tố nguy cơ mạnh mẽ dẫn đến sức khỏe kém, tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong. Tác động của phân biệt chủng tộc đối với sức khỏe có thể thông qua sự bất bình đẳng về nguồn lực hoặc cơ hội, hoặc do phơi nhiễm với các mối nguy hại môi trường và căng thẳng mãn tính (Xem phần ‘Tác động của phân biệt chủng tộc’ ở dưới).
Yếu tố di truyền – Có một số mối liên hệ ở cấp độ nhóm giữa danh tính chủng tộc/sắc tộc và tỷ lệ lưu hành của một số bệnh lý nhất định. Tuy nhiên, các tình trạng này không phân bố đồng đều trong bất kỳ nhóm chủng tộc hay sắc tộc nào và không dùng để định nghĩa một nhóm. Chỉ một tỷ lệ nhỏ các khác biệt cấp độ nhóm là có liên quan đến sự khác biệt về tỷ lệ các biến thể gen (Xem phần ‘Yếu tố nguy cơ di truyền liên quan đến chủng tộc hoặc sắc tộc’ ở dưới).
Sử dụng chủng tộc trong các thuật toán y khoa – Chủng tộc từng được đưa vào như một yếu tố điều chỉnh cấp độ cá thể trong nhiều thuật toán y khoa hoặc công cụ hỗ trợ ra quyết định, phản ánh giả định sai lầm rằng có những khác biệt sinh lý bẩm sinh giữa các nhóm chủng tộc gây ra hoặc làm trầm trọng thêm một tình trạng y khoa hoặc sinh lý. Nhiều thuật toán hiện đang được xem xét lại với mục đích phân tích, sửa đổi và loại bỏ các yếu tố điều chỉnh theo chủng tộc. Các ví dụ điển hình bao gồm ước tính độ lọc cầu thận (GFR), dự đoán thành công của sinh ngả âm đạo sau mổ lấy thai và quản lý nhiễm trùng đường tiết niệu ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (Xem phần ‘Sử dụng chủng tộc trong các thuật toán y khoa và công cụ hỗ trợ ra quyết định’ ở dưới).
Thực hành tốt nhất – Tiếp cận chăm sóc y tế có ý thức về chủng tộc nghĩa là chúng ta nhận thức được thực tế rằng: dựa trên chủng tộc hoặc sắc tộc, các nhóm người được đối xử khác nhau, có trải nghiệm sống khác nhau và có mức độ tiếp cận khác nhau đối với các nguồn lực và cơ hội cải thiện sức khỏe và chất lượng cuộc sống. Các thực hành tốt nhất bao gồm nỗ lực thực hiện các nội dung sau (bảng 2):
- Tránh đưa thông tin chủng tộc và sắc tộc vào lý do vào viện hoặc phần mô tả tiền sử bệnh. Thay vào đó, hãy đưa chủng tộc hoặc sắc tộc do bệnh nhân tự xác định vào phần tiền sử xã hội.
- Nhận diện và điều chỉnh các quan niệm sai lầm hoặc huyền thoại về chủng tộc trong lịch sử.
- Thúc đẩy các hướng dẫn tầm soát có ý thức về chủng tộc và sắc tộc.
- Sử dụng thông tin chủng tộc và sắc tộc do bệnh nhân tự cung cấp như một phần của tiền sử đầy đủ để ưu tiên chẩn đoán phân biệt các yếu tố nguy cơ xã hội hoặc di truyền, nhưng không sử dụng chủng tộc hoặc sắc tộc để mặc định khẳng định hoặc loại trừ một chẩn đoán.
- Vận dụng hiểu biết về chủng tộc và sắc tộc để định hướng đánh giá và giáo dục sức khỏe cá thể hóa cho bệnh nhân.
- Thận trọng khi sử dụng các thuật toán dựa trên chủng tộc (Xem phần ‘Chăm sóc có ý thức về chủng tộc và sắc tộc’ ở dưới).
Các cân nhắc về sức khỏe cộng đồng – Việc nhận thức được những khác biệt ở cấp độ nhóm có thể được sử dụng để triển khai các can thiệp mục tiêu nhằm xóa bỏ sự chênh lệch về sức khỏe thông qua giáo dục, tầm soát, giám sát, vận động và hành động trực tiếp để giảm thiểu bất bình đẳng (Xem phần ‘Sức khỏe cộng đồng/phân bổ nguồn lực’ ở dưới).