Trí tuệ nhân tạo
Việc tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) vào tư duy lâm sàng hoặc ra quyết định chẩn đoán nằm ở điểm giao thoa giữa các can thiệp tập trung vào người cung cấp dịch vụ y tế và can thiệp tập trung vào hệ thống. Hiện nay, AI đã được ứng dụng tích cực trong các lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh như chẩn đoán hình ảnh và giải phẫu bệnh.
Có nhiều kịch bản ứng dụng lý thuyết cho công nghệ này trong chẩn đoán lâm sàng, bao gồm tóm tắt thông tin trong hồ sơ sức khỏe điện tử (EHR), mở rộng danh sách chẩn đoán phân biệt và hỗ trợ ra quyết định lâm sàng. Mặc dù AI có tiềm năng đáng kể trong việc cải thiện chẩn đoán, nhưng các lợi ích thực tế rõ rệt vẫn chưa được chứng minh một cách nhất quán. Một nghiên cứu tình huống lâm sàng cho thấy lợi ích về độ chính xác trong chẩn đoán tăng thêm là hạn chế khi các bác sĩ lâm sàng được tiếp cận với mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) so với việc sử dụng các nguồn tài liệu lâm sàng tiêu chuẩn; nguyên nhân có thể do thiếu sự rõ ràng về cách tích hợp công cụ tiềm năng này vào quy trình chẩn đoán một cách hiệu quả nhất 74. Cách thức tối ưu để các bác sĩ lâm sàng tương tác với AI là một lĩnh vực trọng tâm quan trọng trong nghiên cứu về nâng cao chất lượng chẩn đoán.
TÓM TẮT
Việc thông báo sai sót chẩn đoán bao gồm các bước tương tự như các quy trình thông báo sai sót y khoa khác: thông báo về sai sót, giải thích nguyên nhân xảy ra sai sót, lập kế hoạch giảm thiểu tác động của sai sót đối với bệnh nhân và các nỗ lực hệ thống để ngăn ngừa tái diễn 75. (Xem “Thông báo sai sót trong các thủ thuật ngoại khoa”.)
Một khía cạnh phức tạp của việc thông báo sai sót, đặc biệt liên quan đến sai sót chẩn đoán, là sự tham gia của nhiều đội ngũ và môi trường khác nhau trong quy trình chẩn đoán. Do quá trình bàn giao, mô hình hội chẩn và chuyển tuyến, một nhân viên y tế có thể rơi vào tình huống phải thông báo về một sai sót mà họ cảm thấy là do một đồng nghiệp hoặc do hệ thống gây ra. Bước đầu tiên trong trường hợp này là trao đổi với nhân viên y tế liên quan cũng như bộ phận quản trị rủi ro của từng cá nhân/cơ sở để phân tích và cùng thực hiện thông báo nếu xác nhận có sự cố có thể phòng ngừa được 76. Lưu ý, điều này nên được thực hiện khi có mức độ chắc chắn cao rằng sai sót chính là nguyên nhân dẫn đến việc chậm trễ hoặc chẩn đoán sai.
TÓM TẮT VÀ KHUYẾN CÁO
- Định nghĩa – Sai sót chẩn đoán là “việc bỏ lỡ cơ hội để đưa ra chẩn đoán kịp thời hoặc chính xác, hoặc bỏ lỡ bước chẩn đoán tiếp theo dựa trên các bằng chứng hiện có tại thời điểm đó” do sai sót của nhân viên y tế hoặc của hệ thống. (Xem phần ‘Định nghĩa’ ở dưới.)
- Tỷ lệ hiện mắc
Sai sót chẩn đoán rất phổ biến và có khả năng gây ra hàng ngàn trường hợp bệnh tật và tử vong có thể phòng ngừa được mỗi năm. Những sai sót này thường kéo dài và/hoặc lan truyền qua nhiều lần thăm khám, nhiều môi trường hệ thống và giữa các nhân viên y tế đa chuyên khoa. (Xem phần ‘Tỷ lệ hiện mắc’ ở dưới.)
Một số bệnh lý (ung thư, biến cố mạch máu và nhiễm trùng) có xu hướng có tỷ lệ sai sót cao hơn. (Xem phần ‘Các bệnh lý có tỷ lệ sai sót chẩn đoán cao’ ở dưới.)
- Nguyên nhân
Sai sót chẩn đoán thường liên quan đến nhiều nguyên nhân tiềm ẩn phụ thuộc lẫn nhau, bao gồm các yếu tố từ bệnh nhân, nhân viên y tế, hệ thống và các giai đoạn của quy trình chẩn đoán (bảng 1). (Xem phần ‘Nguyên nhân gây sai sót chẩn đoán’ ở dưới.)
Việc đánh giá của nhân viên y tế và ra quyết định lâm sàng có thể bị ảnh hưởng bởi định kiến nhận thức, kinh nghiệm, định kiến ngầm, trạng thái cảm xúc và áp lực nhận thức (bảng 2). (Xem phần ‘Ra quyết định của nhân viên y tế’ ở dưới.)
- Can thiệp – Những cải thiện hiệu quả nhất đòi hỏi sự kết hợp giữa các can thiệp ở cấp độ cá nhân bác sĩ lâm sàng và cấp độ hệ thống. (Xem phần ‘Can thiệp’ ở dưới.)