TÓM TẮT
Định nghĩa và biểu hiện lâm sàng – Viêm da tiết bã là một dạng viêm da mạn tính, hay tái phát, xuất hiện ở những vùng giàu tuyến bã nhờn (da đầu, mặt, thân trên và các vùng nếp gấp). Thể nhẹ và phổ biến nhất của viêm da tiết bã da đầu là gàu, biểu hiện bằng tình trạng bong vảy lan tỏa trên da đầu (hình 2). Các thể nặng biểu hiện bằng những mảng đỏ viêm, bao phủ bởi lớp vảy nhờn màu vàng (hình 1C-H). (Xem thêm mục ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
Chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt – Chẩn đoán viêm da tiết bã thường dựa trên lâm sàng thông qua hình thái và vị trí của các tổn thương. Chẩn đoán phân biệt bao gồm vảy nến (hình 5), chứng đỏ mặt (rosacea) (hình 8A-E), lang ben (hình 9), vảy phấn hồng (hình 10A-B), nấm thân (hình 11), giang mai giai đoạn 2, lupus ban đỏ (hình 12A-B) và pemphigus lá (hình 13A-B). Các bệnh lý này có thể được phân biệt thông qua thăm khám lâm sàng và/hoặc các xét nghiệm cận lâm sàng và mô bệnh học. (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán’ và ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)
Điều trị – Viêm da tiết bã là một bệnh lý mạn tính. Mục tiêu chính của điều trị là làm sạch các tổn thương nhìn thấy được và giảm các triệu chứng đi kèm. Việc điều trị lặp lại hoặc điều trị duy trì dài hạn thường là cần thiết (sơ đồ 1 và sơ đồ 2).
Viêm da tiết bã da đầu
- Mức độ nhẹ – Đối với bệnh nhân viêm da tiết bã da đầu thể nhẹ, không viêm (gàu), chúng tôi đề nghị sử dụng dầu gội kháng nấm (ketoconazole 2%, ciclopirox 1%) (Khuyến cáo 2C). Các lựa chọn dầu gội kháng nấm không kê đơn khác bao gồm zinc pyrithione 1% và selenium sulfide 2,5%. Dầu gội nên được sử dụng hàng ngày hoặc ít nhất 2-3 lần mỗi tuần trong vòng 4 tuần. (Xem thêm mục ‘Viêm da tiết bã da đầu’ ở dưới.)
- Mức độ trung bình đến nặng – Đối với bệnh nhân viêm da tiết bã da đầu thể trung bình đến nặng, có viêm, chúng tôi đề nghị kết hợp dầu gội kháng nấm (ví dụ: ketoconazole 2%) với corticosteroid tại chỗ loại mạnh (bảng 1) dưới dạng bào chế mà bệnh nhân lựa chọn (dung dịch, xịt, bọt) (Khuyến cáo 2C). Corticosteroid tại chỗ có thể được sử dụng một lần mỗi ngày trong 2 tuần. (Xem thêm mục ‘Viêm da tiết bã da đầu’ ở dưới.)
Viêm da tiết bã ngoài da đầu
- Thể nhẹ
Đối với bệnh nhân viêm da thể nhẹ với tình trạng đỏ da và ngứa tối thiểu, chúng tôi đề nghị điều trị đơn trị liệu bằng thuốc kháng nấm tại chỗ (bảng 2 và sơ đồ 2) (Khuyến cáo 2C). (Xem thêm mục ‘Thể nhẹ’ ở dưới.)
Đối với bệnh nhân không đáp ứng với liệu pháp ban đầu sau 4 tuần, chúng tôi sẽ phối hợp thêm corticosteroid tại chỗ loại nhẹ (nhóm 6 hoặc 7 (bảng 1)) trong tối đa 2 tuần. (Xem thêm mục ‘Thể nhẹ’ ở dưới.)
- Thể trung bình hoặc nặng – Đối với bệnh nhân thể trung bình hoặc nặng, đỏ da hoặc ngứa rõ rệt, chúng tôi đề nghị sử dụng thuốc kháng nấm tại chỗ (ví dụ: kem ketoconazole 2%, các kem azole khác, hoặc kem ciclopirox 1% (bảng 2)) phối hợp với corticosteroid tại chỗ loại nhẹ (nhóm 6 hoặc 7), sử dụng 1-2 lần mỗi ngày trong tối đa 2 tuần (Khuyến cáo 2C). Có thể sử dụng corticosteroid loại trung bình (nhóm 4 hoặc 5) cho vùng ngực hoặc lưng trên (bảng 1). (Xem thêm mục ‘Thể trung bình hoặc nặng’ ở dưới.)
- Bệnh nhân có râu và ria mép – Chúng tôi đề nghị sử dụng dầu gội ketoconazole 2% để gội vùng râu/ria mép (Khuyến cáo 2C). Dầu gội được sử dụng hàng ngày cho đến khi lui bệnh, sau đó duy trì 1 lần mỗi tuần. Có thể phối hợp thêm corticosteroid loại nhẹ (nhóm 7 (bảng 1)) vào điều trị ban đầu để kiểm soát tình trạng viêm và ngứa. (Xem thêm mục ‘Râu và ria mép’ ở dưới.)
Bệnh nhân viêm da ngoài da đầu không cải thiện với liệu pháp ban đầu
Đối với những bệnh nhân không đáp ứng đầy đủ với liệu pháp tại chỗ ban đầu, chúng tôi tiếp tục duy trì thuốc kháng nấm tại chỗ, ngưng corticosteroid và bắt đầu sử dụng thuốc ức chế calcineurin tại chỗ (mỡ tacrolimus 0,1% hoặc kem pimecrolimus 1%) hoặc thuốc ức chế PDE4 tại chỗ (kem crisaborole 2% hoặc bọt roflumilast 0,3%) trong 4 tuần (Khuyến cáo 2C). (Xem thêm mục ‘Điều trị tiếp theo’ ở dưới.)
Bệnh kháng trị (Xem mục ‘Viêm da tiết bã kháng trị’ ở dưới)
Đối với bệnh nhân không đáp ứng sau 4 tuần điều trị tại chỗ, chúng tôi đề nghị sử dụng một liệu trình ngắn thuốc kháng nấm đường uống phối hợp với hoặc thay thế cho các liệu pháp tại chỗ (Khuyến cáo 2C). Chúng tôi thường sử dụng itraconazole 200 mg/ngày trong 7 ngày. (Xem thêm mục ‘Viêm da tiết bã kháng trị’ ở dưới.)
Cần xem xét lại chẩn đoán đối với những bệnh nhân không cải thiện sau khi đã sử dụng cả điều trị tại chỗ và đường uống.
Phòng ngừa tái phát – Đối với hầu hết bệnh nhân viêm da tiết bã, việc sử dụng ngắt quãng các liệu pháp tại chỗ có thể giúp ngăn ngừa tái phát. (Xem thêm mục ‘Phòng ngừa tái phát’ ở dưới.)
- Đối với viêm da tiết bã da đầu, chúng tôi đề nghị dùng dầu gội ketoconazole 2% hoặc dầu gội ciclopirox 1% mỗi tuần một lần (Khuyến cáo 2C).
- Đối với viêm da tiết bã ở mặt, thân và các vùng nếp gấp, chúng tôi đề nghị dùng dầu gội ketoconazole 2% (như sữa rửa mặt hoặc sữa tắm) hoặc kem ketoconazole 2% một hoặc hai lần mỗi tuần (Khuyến cáo 2C). Các thuốc azole tại chỗ khác hoặc ciclopirox có thể được sử dụng thay thế cho ketoconazole tại chỗ (bảng 2).