TÓM TẮT
Dịch tễ học – Khoảng 90% lực lượng thực thi pháp luật tại Hoa Kỳ được trang bị các thiết bị năng lượng dẫn điện (CED), đây là loại vũ khí ít gây tử vong được thiết kế để vô hiệu hóa đối tượng. Các tổn thương nghiêm trọng hiếm khi xảy ra và thường là hệ quả từ các chấn thương phối hợp. Những chiếc kim găm thường được lực lượng chức năng tự tháo bỏ, và hầu hết những cá nhân tiếp xúc với CED sẽ không tìm đến sự chăm sóc y tế. (Xem thêm mục ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Phân loại, cơ chế và tác động sinh lý của CED – TASER (hình 3 và hình 1) là tên thương mại của loại CED phổ biến nhất, có thể bắn kim từ xa (chế độ bắn kim – dart mode) (hình 1, hình 2 và hình 4) hoặc ấn trực tiếp vào da đối tượng (chế độ gây choáng – stun drive mode). Các thiết bị CED dùng cho cá nhân (dân sự) chỉ được thiết kế cho chế độ gây choáng và không thể bắn từ xa. Kim của CED truyền dòng điện một chiều xung, điện áp cao, cường độ thấp, gây co cơ không tự chủ và đau thông qua việc kích thích các nơ-ron vận động alpha. Sự kích thích cơ có thể dẫn đến giải phóng catecholamine, nhiễm toan máu và tăng creatine kinase (CK), tuy nhiên những thay đổi này không có ý nghĩa lâm sàng ở những đối tượng khỏe mạnh. (Xem thêm mục ‘Các loại CED, cơ chế và tác động sinh lý’ ở dưới.)
Đặc điểm lâm sàng của các tổn thương tiềm tàng – Bản thân dòng điện từ CED hoặc tình trạng co cơ ít khi gây tổn thương trực tiếp cho một người khỏe mạnh. Các tổn thương nguyên phát từ CED chủ yếu do ngạnh kim đâm xuyên khi kim găm vào các vị trí giải phẫu nhạy cảm như hộp sọ, mặt, mắt, họng, bìu và ngón tay. Sau khi bị vô hiệu hóa bởi luồng điện của CED, bệnh nhân có thể ngã và gặp các tổn thương thứ phát. Việc sử dụng CED có liên quan đến tiêu cơ vân, nhưng các yếu tố dẫn đến việc phải sử dụng CED (ví dụ: kích động, ngộ độc, bị khống chế kéo dài, co cơ đẳng trường) thường là nguyên nhân chính gây ra tình trạng hủy hoại cơ. Ngoài ra, trong một số trường hợp, những thay đổi sinh lý tương đối hạn chế từ luồng điện CED có thể làm tăng nguy cơ nhiễm toan chuyển hóa (và cuối cùng là đột tử do tim) trong quá trình khống chế. (Xem thêm mục ‘Cơ chế và đặc điểm lâm sàng của tổn thương’ ở dưới.)
Hỏi bệnh và thăm khám – Cần trao đổi với lực lượng thực thi pháp luật về lý do bệnh nhân được đưa đến chăm sóc y tế, vị trí ngạnh kim đâm xuyên và liệu chúng đã được tháo bỏ hết chưa, số chu kỳ 5 giây đã sử dụng và chi tiết quá trình khống chế. Thăm khám các điểm xâm nhập của ngạnh kim và tìm kiếm các dấu hiệu tổn thương (hình 6 và hình 5). (Xem thêm mục ‘Tiền sử và khám thực thể’ ở dưới.)
Xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh
- Tiếp xúc ngắn (<15 giây): Không có chỉ định xét nghiệm đặc hiệu cho việc tiếp xúc với CED, ngoại trừ chẩn đoán hình ảnh nếu nghi ngờ có chấn thương đụng dập.
- Tiếp xúc kéo dài (>15 giây): Thực hiện điện tâm đồ (ECG), khí máu, định lượng lactate, điện giải đồ, troponin và CK.
- Trường hợp đặc biệt: Nếu khó tháo kim hoặc kim có dấu hiệu găm vào xương, cần chụp X-quang vùng tổn thương để đảm bảo không còn mảnh vỡ sót lại hoặc để đánh giá chính xác vị trí của ngạnh kim.
Xử trí – Đánh giá và ổn định đường thở, hô hấp và tuần hoàn. Các nguyên tắc hồi sức không thay đổi khi có sử dụng CED; tuân thủ các nguyên tắc hỗ trợ nâng cao trong cấp cứu tim mạch (ACLS) và hỗ trợ nâng cao trong cấp cứu chấn thương (ATLS) tiêu chuẩn (tức là khám sơ cấp sau đó đến khám thứ cấp), vì có thể xảy ra chấn thương đụng dập do ngã hoặc do quá trình khống chế vật lý. Bệnh nhân ổn định về huyết động chỉ tiếp xúc đơn thuần với CED thì không cần theo dõi tim liên tục. (Xem thêm mục ‘Chăm sóc ban đầu và xử trí chấn thương’ ở dưới.)
Tháo kim găm – Mặc dù kim CED có ngạnh hình lưỡi câu, nhưng nhìn chung chúng dễ dàng được tháo bỏ bằng cách kẹp chặt kim và kéo theo trục. Các ngạnh kim găm vào hoặc gần bìu, mắt, khí quản, ngón tay hoặc hộp sọ có thể cần được tháo bỏ bởi bác sĩ chuyên khoa phù hợp tùy thuộc vào nguy cơ tổn thương các cấu trúc bên dưới. (Xem thêm mục ‘Lấy phi tiêu găm’ ở dưới.)
Tổn thương da – Chăm sóc vết thương và vết bỏng tiêu chuẩn như làm sạch, bôi thuốc mỡ kháng sinh tại chỗ và băng bó là đủ. Không cần thiết phải sử dụng kháng sinh toàn thân dự phòng. (Xem thêm mục ‘Vết thương da và bỏng’ ở dưới.)
Thay đổi trên ECG hoặc bất thường xét nghiệm – Những trường hợp này ít khi xảy ra nhưng sẽ được xử trí theo các nguyên tắc tiêu chuẩn sau khi đảm bảo bệnh nhân đã bình tĩnh và không còn chống đối khi bị khống chế. (Xem thêm mục ‘Bệnh nhân có thay đổi ECG hoặc kết quả xét nghiệm bất thường’ ở dưới.)
Hướng xử trí tiếp theo – Bệnh nhân tiếp xúc đơn thuần với CED có dấu hiệu sinh tồn bình thường, kết quả ECG và xét nghiệm (nếu có) trong giới hạn bình thường thì không cần nhập viện hoặc theo dõi tại khoa cấp cứu trong một khoảng thời gian định trước. (Xem thêm mục ‘Hướng xử trí’ ở dưới.)