TÓM TẮT
Đường thở khó – Đường thở khó được xác định khi bác sĩ gặp khó khăn trong quá trình thông khí bằng mặt nạ, soi thanh quản hoặc đặt nội khí quản. Các nguyên nhân thường gặp gây đường thở khó ở trẻ em bao gồm dị tật bẩm sinh (bảng 1), viêm nắp thanh quản, phản vệ, chấn thương đường thở và dị vật đường thở. (Xem phần ‘Định nghĩa‘ ở trên và mục ‘Nguyên nhân gây đường thở khó ở trẻ em’ trong bài “Đường thở khó ở trẻ em trong cấp cứu”.)
Thất bại trong kiểm soát đường thở – Tình trạng này xảy ra khi bác sĩ không thể cung cấp oxy hoặc thông khí cho bệnh nhân. Về mặt lâm sàng, điều này được ghi nhận khi không thể đặt nội khí quản và việc thông khí bằng bóng-mặt nạ hoặc thiết bị trên thanh quản không duy trì được độ bão hòa oxy trong máu (SpO2) trên 90%.
Tiếp cận – Quy trình tiếp cận đối với đường thở khó hoặc thất bại được trình bày cụ thể trong các sơ đồ thuật toán và được thảo luận chi tiết trong các phần riêng biệt (sơ đồ 1A-C). (Xem mục ‘Nhận diện đường thở khó ở trẻ em’ trong bài “Đường thở khó ở trẻ em trong cấp cứu”.)
Lựa chọn thiết bị – Việc lựa chọn thiết bị phụ thuộc vào các rào cản cụ thể đối với đặt nội khí quản gặp phải hoặc dự kiến trong quá trình soi thanh quản trực tiếp, cũng như trình độ đào tạo và kinh nghiệm của người thực hiện (xem ‘Lựa chọn kỹ thuật‘ ở trên):
- Nhìn thấy nắp thanh quản nhưng không thấy dây thanh âm (độ III theo phân loại Cormack-Lehane (hình 1)) (xem ‘Đèn soi thanh quản có camera‘ và ‘Thiết bị hỗ trợ đặt nội khí quản (bougie)’ ở dưới):
- Đèn soi thanh quản có camera (nếu chưa thực hiện)
- Thiết bị hỗ trợ đặt nội khí quản (bougie)
- Không nhìn thấy nắp thanh quản hoặc dây thanh âm (độ IV theo phân loại Cormack-Lehane (hình 1)) (xem ‘Đèn soi thanh quản có camera‘ và ‘Stylet chuyên dụng‘ ở trên):
- Đèn soi thanh quản có camera (nếu chưa thực hiện)
- Stylet quang học
- Đặt nội khí quản bằng ống soi mềm (FSI)
- Há miệng hạn chế (xem ‘Stylet chuyên dụng‘ ở trên):
- Stylet quang học
- FSI
Đào tạo – Mức độ đào tạo phụ thuộc vào tần suất bác sĩ gặp phải các trường hợp đường thở khó ở trẻ em:
- Tất cả nhân viên y tế cần được đào tạo và có kinh nghiệm sử dụng các thiết bị đường thở trên thanh quản (ví dụ: mặt nạ thanh quản, i-gel hoặc các thiết bị tương đương). (Xem ‘Thiết bị đường thở trên thanh quản ở trẻ em có đường thở khó‘.)
- Những người ít khi gặp trường hợp đường thở khó ở trẻ em nên thành thạo một số thiết bị cơ bản (ví dụ: thiết bị hỗ trợ đặt nội khí quản, stylet sợi quang hoặc đèn soi thanh quản có camera).
- Những chuyên gia thường xuyên xử lý đường thở khó ở trẻ em (ví dụ: bác sĩ gây mê nhi khoa, bác sĩ cấp cứu tại các khoa có cường độ làm việc cao và bệnh nhân nặng, bác sĩ hồi sức cấp cứu) cần thành thạo nhiều loại thiết bị khác nhau, bao gồm cả những thiết bị đòi hỏi phải thực hành nhiều lần để đạt hiệu quả tối ưu (ví dụ: FSI).
Kỹ thuật – Các kỹ thuật được mô tả cho nhiều loại thiết bị hỗ trợ đặt nội khí quản khó ở trẻ em, bao gồm:
- Đèn soi thanh quản có camera (hình 10, hình 2, hình 1A-B và hình 5) (xem ‘Đèn soi thanh quản có camera‘ ở trên)
- Thiết bị hỗ trợ đặt nội khí quản (hình 7) (xem ‘Thiết bị hỗ trợ đặt nội khí quản (bougie)’ ở dưới)
- Stylet quang học (hình 9) (xem ‘Stylet quang học‘ ở trên)
- Đặt nội khí quản bằng ống soi mềm (hình 3 và hình 4) (xem ‘Đặt nội khí quản bằng ống soi mềm trong gây mê‘)