Ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới lớn tuổi

TÓM TẮT

Đánh giá bệnh nhân – Việc quản lý ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới cao tuổi đòi hỏi phải đánh giá kỹ lưỡng nhiều yếu tố, bao gồm các bệnh đồng mắc, mức độ phụ thuộc, hoạt động sinh hoạt hằng ngày (ADL) và tình trạng dinh dưỡng; những yếu tố này cuối cùng có ý nghĩa quan trọng hơn là tuổi tác theo thời gian. Dựa trên đánh giá chi tiết các thông số này (bảng 1), bệnh nhân nên được phân loại thành: thể trạng tốt (fit), dễ tổn thương (vulnerable) hoặc suy kiệt (frail) (sơ đồ 1). Những bệnh nhân dễ tổn thương hoặc suy kiệt cần được thực hiện đánh giá lão khoa toàn diện. (Xem mục ‘Phân loại bệnh nhân dựa trên tình trạng sức khỏe’ ở dưới và “Đánh giá lão khoa toàn diện cho bệnh nhân ung thư”.)

Xem xét điều trị dựa trên tình trạng sức khỏe – Đối với nam giới mắc ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn khu trú, việc lựa chọn phương pháp điều trị phụ thuộc vào đánh giá tình trạng tổng thể của bệnh nhân, tiên lượng thời gian sống còn, cũng như phân tầng nguy cơ của khối u nguyên phát (bảng 11). (Xem mục ‘Bệnh khu trú’ ở dưới.)

  • Nam giới cao tuổi có sức khỏe tốt nên được tiếp cận các lựa chọn điều trị triệt căn tương tự như bệnh nhân trẻ tuổi, bao gồm phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc và xạ trị (RT; xạ trị ngoài và/hoặc xạ trị áp sát); theo dõi chủ động là lựa chọn phù hợp cho nhiều bệnh nhân có nguy cơ rất thấp, nguy cơ thấp và một số nam giới có nguy cơ trung bình thuận lợi.
  • Bệnh nhân dễ tổn thương có các vấn đề sức khỏe có thể hồi phục và mắc ung thư tuyến tiền liệt khu trú nguy cơ cao nhìn chung nên được điều trị triệt căn tương tự như bệnh nhân trẻ tuổi, sau khi đã xử lý thích hợp các bệnh lý nền khác. Đối với những người mắc ung thư tuyến tiền liệt khu trú nguy cơ thấp/trung bình, theo dõi chủ động hoặc chờ đợi cảnh giác thường được ưu tiên hơn.
  • Nam giới cao tuổi suy kiệt có các vấn đề sức khỏe không thể hồi phục nhìn chung nên được quản lý triệu chứng/điều trị giảm nhẹ mà không cần điều trị triệt căn (ví dụ: liệu pháp hormone ban đầu).

Chăm sóc giảm nhẹ – Khuyến khích chuyển gửi sớm sang chuyên khoa chăm sóc giảm nhẹ cho nam giới cao tuổi mắc ung thư tuyến tiền liệt, đặc biệt trong bối cảnh bệnh kháng thiến tiến triển. (Xem mục ‘Chăm sóc hỗ trợ’ ở dưới.)

Quản lý ban đầu bằng liệu pháp tước đoạt androgen (ADT) – Bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn tiến triển ban đầu được quản lý bằng liệu pháp tước đoạt androgen (ADT). Cần đặc biệt lưu ý đến các biến chứng của ADT và khả năng tương tác với các bệnh đồng mắc (bảng 12). (Xem mục ‘Ung thư tuyến tiền liệt nhạy với thiến’ ở dưới, “Liệu pháp hệ thống ban đầu cho ung thư tuyến tiền liệt tiến triển, tái phát và di căn không kháng thiến (nhạy với thiến)”“Tác dụng phụ của liệu pháp tước đoạt androgen”.)

Hóa trị cho bệnh nhân có thể trạng tốt – Việc phối hợp docetaxel hoặc abiraterone với ADT là lựa chọn điều trị bước một hợp lý cho nam giới cao tuổi có thể trạng tốt, mới chẩn đoán mắc bệnh di căn, thể tích u lớn và nhạy với thiến. Do lợi ích còn chưa chắc chắn khi xem xét các nguy cơ tử vong cạnh tranh ở những bệnh nhân này, nên thực hiện đánh giá lão khoa cho các đối tượng này. (Xem mục ‘ADT cộng với liệu pháp hệ thống’ ở dưới.)

Đối với những bệnh nhân có chỉ định dùng docetaxel, việc quyết định có thêm tác nhân hệ thống thứ hai vào phác đồ docetaxel cộng ADT hay không phải được cá thể hóa, xem xét mức độ lan rộng của bệnh cũng như tình trạng chức năng và thể trạng. (Xem mục ‘ADT cộng với docetaxel và tác nhân hệ thống thứ hai’ ở dưới.)

Bệnh di căn xương thiểu số (Oligometastatic bone disease) – Đối với nam giới mới chẩn đoán mắc bệnh di căn, có gánh nặng di căn xương thấp (được định nghĩa là có 4 tổn thương di căn xương trở xuống, không có tổn thương ngoài thân đốt sống hoặc vùng chậu) và không di căn tạng, việc thực hiện xạ trị tuyến tiền liệt kết hợp với liệu pháp hệ thống là hợp lý, thay vì chỉ dùng liệu pháp hệ thống đơn thuần. (Xem mục ‘Liệu pháp nhắm vào tuyến tiền liệt’ ở dưới.)

PSA tăng không kèm bệnh di căn – Những nam giới có nồng độ kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA) tăng sau ADT với thời gian nhân đôi PSA ≤ 10 tháng, giá trị PSA > 2 ng/mL và không có bằng chứng di căn hoặc tổn thương hạch là những ứng viên phù hợp để điều trị bằng apalutamide, enzalutamide hoặc darolutamide. (Xem mục ‘Ung thư tuyến tiền liệt kháng thiến không di căn’ ở dưới.)

PSA tăng kèm bệnh di căn – Nam giới mắc ung thư tuyến tiền liệt kháng thiến di căn có thể được chỉ định các liệu pháp tương tự như bệnh nhân trẻ tuổi, bao gồm hóa trị (docetaxel, cabazitaxel), abiraterone, enzalutamide, apalutamide, radium-223 và sipuleucel-T. Việc lựa chọn và trình tự điều trị cần căn cứ vào tình trạng lâm sàng tổng thể của bệnh nhân. Abiraterone và enzalutamide là những lựa chọn phù hợp cho nam giới cao tuổi không có chỉ định hóa trị. (Xem “Tổng quan về điều trị ung thư tuyến tiền liệt kháng thiến (CRPC)”.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here