TÓM TẮT
Sinh lý bệnh và di truyền học
Các rối loạn chức năng surfactant do di truyền gây ra bởi các biến thể trình tự DNA gây bệnh hoặc có khả năng gây bệnh trong các gen chịu trách nhiệm sản xuất và điều phối chức năng của surfactant phổi. Đây là những rối loạn hiếm gặp, có thể biểu hiện dưới dạng bệnh phổi gia đình hoặc sporadic (tự phát), với bệnh cảnh lâm sàng đa dạng từ suy hô hấp sơ sinh đến bệnh phổi lan tỏa khởi phát ở trẻ em và người trưởng thành (DLD; hay còn gọi là bệnh phổi kẽ). Tổng quan về các rối loạn này được trình bày trong bảng (bảng 1).
Hầu hết các biến thể trình tự gây bệnh trong gen SFTPB dẫn đến tình trạng thiếu hụt hoàn toàn protein surfactant B trưởng thành. Bệnh nhân thường xuất hiện suy hô hấp trong giai đoạn sơ sinh và tiến triển đến suy hô hấp tử vong trong vòng ba đến sáu tháng. Bệnh cảnh lâm sàng giai đoạn sớm có thể tương tự như hội chứng suy hô hấp (RDS) hoặc tăng áp động mạch phổi sơ sinh dai dẳng (PPHN). (Xem thêm mục ‘Các biến thể trình tự SFTPB và tình trạng thiếu hụt SP-B’ và ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
Các biến thể gây bệnh trong gen SFTPC dẫn đến việc tạo ra một dạng bất thường của tiền chất protein surfactant (SP) C trưởng thành. Bệnh phổi liên quan có tuổi khởi phát và diễn tiến lâm sàng thay đổi rất nhiều, ngay cả trong cùng một gia đình. Bệnh nhân có thể khởi phát ngay từ giai đoạn nhũ nhi hoặc không có triệu chứng cho đến khi trưởng thành. Các đặc điểm lâm sàng phổ biến nhất khi khởi phát ở trẻ em là ho, thở nhanh và giảm oxy máu. (Xem thêm mục ‘Các biến thể trình tự SFTPC’ và ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
Rối loạn chức năng surfactant do biến thể trình tự trong gen ABCA3 có kiểu hình thay đổi. Nhiều trẻ sơ sinh có thể khởi phát trong giai đoạn sơ sinh với bệnh lý tiến triển nặng dẫn đến tử vong sớm, trong khi một số trẻ khác có thể ổn định hoặc cải thiện. Một số cá thể có thể khởi phát muộn hơn ở giai đoạn nhũ nhi hoặc trẻ nhỏ với các triệu chứng ho, thở nhanh, giảm oxy máu, trào ngược dạ dày thực quản và chậm phát triển. (Xem thêm mục ‘Các biến thể trình tự ABCA3’ và ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
Biểu hiện lâm sàng
Nghi ngờ chẩn đoán rối loạn chức năng surfactant do di truyền khi gặp trẻ nhũ nhi suy hô hấp không rõ nguyên nhân, trẻ sơ sinh có các triệu chứng gợi ý RDS nhưng không có tiền sử sinh non, hoặc trẻ lớn hơn có kết quả thăm dò chức năng hô hấp (PFT) gợi ý bệnh phổi hạn chế.
Đánh giá và chẩn đoán
Chẩn đoán rối loạn chức năng surfactant di truyền được hỗ trợ bởi các dấu hiệu hình ảnh kính mờ trong phế nang và dày vách kẽ trên chụp cắt lớp vi tính phân giải cao (HRCT). Chẩn đoán được xác nhận thông qua xét nghiệm di truyền, có thể sử dụng các bảng gen (panels) nhắm vào các gen đã biết liên quan đến bệnh phổi hoặc thông qua các nghiên cứu chẩn đoán giải trình tự toàn bộ vùng mã hóa (whole-exome) hoặc toàn bộ hệ gen (whole-genome). (Xem thêm mục ‘Các nghiên cứu chẩn đoán hình ảnh’ và ‘Xét nghiệm di truyền’ ở dưới.)
Sinh thiết phổi có thể được chỉ định để chẩn đoán khi bệnh tiến triển nhanh và không đủ thời gian chờ kết quả xét nghiệm di truyền, hoặc khi kết quả xét nghiệm di truyền không rõ ràng hoặc âm tính. (Xem thêm mục ‘Sinh thiết phổi’ ở dưới.)
Điều trị
Điều trị hỗ trợ là phương pháp chính cho bệnh nhân rối loạn chức năng surfactant. Các biện pháp có thể bao gồm hỗ trợ dinh dưỡng và trong một số trường hợp, hỗ trợ thông khí cho những bệnh nhân phù hợp để ghép phổi.
Ghép phổi là lựa chọn điều trị triệt để duy nhất cho hầu hết trẻ sơ sinh thiếu hụt SP-B và cho những bệnh nhân có thể nặng của rối loạn chức năng surfactant liên quan đến SFTPC và ABCA3. (Xem thêm mục ‘Ghép phổi’ ở dưới.)
Surfactant ngoại sinh có thể mang lại sự cải thiện tạm thời về chức năng phổi cho một số bệnh nhân, nhưng không phải là lựa chọn điều trị dài hạn khả thi. Liệu pháp corticosteroid (trong hầu hết các trường hợp dùng phối hợp với hydroxychloroquine) đã được sử dụng cho bệnh nhân có biến thể trình tự ABCA3 và SFTPC, tuy nhiên, liệu các phương pháp điều trị này có thực sự mang lại lợi ích lâm sàng hay không vẫn chưa rõ ràng. (Xem thêm mục ‘Các liệu pháp dược lý’ ở dưới.)