Sàng lọc ung thư cổ tử cung tại các vùng giàu nguồn lực: Cách sàng lọc ở bệnh nhân có nguy cơ trung bình

TÓM TẮT

Định nghĩa nguy cơ trung bình – Trong tầm soát ung thư cổ tử cung, nguy cơ trung bình được định nghĩa là những cá nhân có cổ tử cung, không có triệu chứng (ví dụ: không có dấu hiệu hoặc triệu chứng của bệnh lý cổ tử cung như xuất huyết bất thường), chức năng miễn dịch bình thường có tất cả các kết quả tầm soát ung thư cổ tử cung bình thường trong quá khứ, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt như đã lưu ý ở trên. (Xem ‘Định nghĩa nguy cơ trung bình’ ở dưới.)

Độ tuổi bắt đầu tầm soát – Đối với hầu hết những cá nhân có nguy cơ trung bình, chúng tôi đề xuất bắt đầu tầm soát trong độ tuổi từ 21 đến 25 thay vì bắt đầu sớm hơn (Khuyến cáo 2C). Cách tiếp cận này nhất quán với hầu hết các hướng dẫn tầm soát tại các quốc gia có nguồn lực dồi dào (bảng 1). Ví dụ, tầm soát bắt đầu từ tuổi 21 theo Lực lượng Đặc nhiệm Dịch vụ Dự phòng Hoa Kỳ (USPSTF) và từ tuổi 25 theo hướng dẫn của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (ACS). Hầu hết các hướng dẫn đều khuyên không nên tầm soát trước 21 tuổi, bất kể độ tuổi bắt đầu hoạt động tình dục. (Xem ‘Tầm soát lần đầu từ 21 đến 25 tuổi’‘Không tầm soát trước 21 tuổi’ ở dưới.)

Phương pháp và tần suất xét nghiệm – Nhiều hướng dẫn đã áp dụng xét nghiệm HPV tiên phát là phương pháp tầm soát ưu tiên; tuy nhiên, phương pháp xét nghiệm ưu tiên (ví dụ: xét nghiệm HPV tiên phát, đồng xét nghiệm, tế bào học cổ tử cung) có sự khác biệt giữa các hướng dẫn và tùy thuộc vào điều kiện sẵn có tại địa phương, như được tóm tắt trong bảng (bảng 1). (Xem ‘Lựa chọn xét nghiệm’‘Gia tăng sử dụng xét nghiệm dựa trên HPV’ ở dưới.)

Tại Hoa Kỳ, USPSTF khuyến nghị thực hiện tế bào học mỗi 3 năm cho bệnh nhân từ 21 đến 29 tuổi; đối với những người từ 30 đến 65 tuổi, khuyến nghị là xét nghiệm HPV tiên phát mỗi 5 năm, tế bào học cổ tử cung mỗi 3 năm, hoặc đồng xét nghiệm (HPV kết hợp tế bào học cổ tử cung) mỗi 5 năm. ACS khuyến nghị xét nghiệm HPV tiên phát mỗi 5 năm cho bệnh nhân từ 25 đến 65 tuổi. Các lựa chọn khác cho bệnh nhân từ 30 đến 65 tuổi bao gồm tầm soát bằng tế bào học cổ tử cung mỗi 3 năm hoặc đồng xét nghiệm mỗi 5 năm. (Xem ‘Lựa chọn xét nghiệm’ ở dưới.)

Tự lấy mẫu HPV có thể được sử dụng ở một số quốc gia để mở rộng khả năng tiếp cận tầm soát, đặc biệt là ở những cá nhân gặp rào cản trong việc tiếp cận dịch vụ. Tại Hoa Kỳ, chỉ một số xét nghiệm HPV nhất định (ví dụ: Onclarity HPV, Cobas HPV) được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt cho hình thức tự lấy mẫu (bảng 3). (Xem ‘Vai trò của tự lấy mẫu HPV’ ở dưới.)

Ngừng tầm soát – Quyết định ngừng tầm soát phụ thuộc vào việc bệnh nhân đã có tiền sử tầm soát đầy đủ hay chưa, kỳ vọng sống và nguyện vọng của bệnh nhân thông qua thảo luận chia sẻ quyết định. (Xem ‘Độ tuổi ngừng tầm soát’ ở dưới.)

Tại Hoa Kỳ, đối với những bệnh nhân có tiền sử tầm soát đầy đủ và tất cả kết quả đều bình thường, việc tầm soát thường được ngừng sau 65 tuổi.

Ngược lại, đối với những người không có tiền sử tầm soát đầy đủ hoặc không rõ tiền sử tầm soát, việc tầm soát nên được tiếp tục sau 65 tuổi. Tuy nhiên, tần suất và thời gian tầm soát trong trường hợp này hiện chưa rõ ràng.

Các lưu ý đặc biệt

Tiền sử cắt tử cung – Những bệnh nhân đã cắt tử cung toàn phần (loại bỏ cổ tử cung) và không có tiền sử ung thư cổ tử cung, tân sinh trong biểu mô cổ tử cung (CIN) hoặc nhiễm HPV nguy cơ cao thì không cần tầm soát ung thư cổ tử cung. Ngược lại, những bệnh nhân cắt tử cung bán phần (còn cổ tử cung) và không có tiền sử CIN nên được tầm soát tương tự như những bệnh nhân có cổ tử cung chưa phẫu thuật cắt tử cung. Đối với những bệnh nhân đã cắt tử cung toàn phần nhưng không rõ tiền sử tầm soát, hướng xử trí hiện chưa rõ ràng. Quyết định tiếp tục hay ngừng tầm soát được xem xét trên từng trường hợp cụ thể, sau khi thảo luận về rủi ro và lợi ích. (Xem ‘Cắt tử cung do bệnh lý lành tính’ ở dưới.)

Bệnh nhân có triệu chứng – Bệnh nhân có các dấu hiệu hoặc triệu chứng của bệnh lý cổ tử cung (ví dụ: bất thường khi quan sát hoặc sờ nắn cổ tử cung, xuất huyết bất thường, tiết dịch bất thường) cần được đánh giá chẩn đoán phù hợp (bằng tế bào học cổ tử cung, sinh thiết và/hoặc sinh thiết nội mạc tử cung); quá trình đánh giá này mang tính chất chẩn đoán, không phải là “tầm soát”. (Xem ‘Bệnh nhân có triệu chứng’ ở dưới.)

Kết quả bất thường – Bệnh nhân có kết quả HPV dương tính, hoặc những người có kết quả tế bào học bất thường, không đạt yêu cầu, hoặc đạt yêu cầu nhưng hạn chế, cần được theo dõi phù hợp. Nội dung này được mô tả trong các chủ đề liên quan. (Xem ‘Theo dõi các kết quả bất thường’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here