TÓM TẮT
Thuật ngữ – Rối loạn lo âu bệnh tật là một chẩn đoán được đưa ra từ năm 2013. Chẩn đoán này được phát triển một phần từ khái niệm chứng nghi bệnh (hypochondriasis), vốn không còn tồn tại trong Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần, Phiên bản thứ 5, Bản hiệu đính (DSM-5-TR) của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ. Trong DSM-5-TR, những bệnh nhân trước đây được chẩn đoán là chứng nghi bệnh hiện nay hầu hết được chẩn đoán là rối loạn triệu chứng cơ thể (nếu các phàn nàn về thể chất chiếm ưu thế) hoặc rối loạn lo âu bệnh tật (nếu các phàn nàn về thể chất ở mức tối thiểu hoặc không có). (Xem ‘Thuật ngữ và DSM-5-TR’ ở dưới.)
Dịch tễ học – Tỷ lệ hiện mắc ước tính trong vòng 6 đến 12 tháng của rối loạn lo âu bệnh tật ở bệnh nhân ngoại trú đa khoa là từ 0,2% đến 1,5%. Rối loạn này có thể xảy ra ở mọi giai đoạn của cuộc đời nhưng phổ biến nhất ở độ tuổi trung niên, với tỷ lệ nam và nữ xấp xỉ 1:1. (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Cơ chế bệnh sinh – Mặc dù cơ chế bệnh sinh của rối loạn lo âu bệnh tật chưa được làm rõ, nhưng các yếu tố tâm lý xã hội và di truyền có thể đóng vai trò quan trọng. (Xem ‘Cơ chế bệnh sinh’ ở dưới.)
Triệu chứng – Đặc điểm cốt lõi của rối loạn lo âu bệnh tật là sự ám ảnh dai dẳng về việc đang mắc hoặc sẽ phát triển một căn bệnh y khoa nghiêm trọng, bất kể đã được thăm khám y khoa và trấn an phù hợp. Những nỗi ám ảnh này rất đa dạng và mức độ nhận thức về bệnh của bệnh nhân cũng khác nhau. Sự lo lắng về căn bệnh đáng sợ thường trở thành tâm điểm trong cuộc sống của bệnh nhân, dẫn đến việc lạm dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe hoặc né tránh rõ rệt các dịch vụ y tế chính thống. (Xem ‘Triệu chứng’ ở dưới.)
Bệnh lý tâm thần đồng mắc – Bệnh nhân rối loạn lo âu bệnh tật thường có các bệnh lý tâm thần đồng mắc, đặc biệt là các rối loạn lo âu và trầm cảm. Các rối loạn nhân cách đồng mắc cũng xuất hiện phổ biến. (Xem ‘Bệnh lý tâm thần đồng mắc’ ở dưới.)
Đánh giá – Những bệnh nhân nghi ngờ mắc rối loạn lo âu bệnh tật cần được đánh giá các bệnh lý nội khoa tổng quát thông qua khai thác tiền sử, thăm khám lâm sàng và thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng tập trung. (Xem “Rối loạn triệu chứng cơ thể: Đánh giá và chẩn đoán”, phần ‘Đánh giá’.)
Quá trình khai thác tiền sử tâm thần và khám trạng thái tâm thần cần tập trung vào các nỗi sợ và niềm tin của bệnh nhân về việc mắc bệnh nội khoa nghiêm trọng, tiền sử bệnh lý nặng, các phương pháp điều trị y khoa hiện tại và trước đây, chất lượng mối quan hệ của bệnh nhân với các bác sĩ chăm sóc sức khỏe ban đầu, các bệnh lý tâm thần đồng mắc, khả năng hoạt động tâm lý xã hội và tiền sử gia đình về các bệnh lý nghiêm trọng. (Xem ‘Phỏng vấn’ ở dưới.)
Chẩn đoán – Các tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn lo âu bệnh tật được tóm tắt trong bảng (bảng 1). (Xem ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
Chẩn đoán phân biệt – Chẩn đoán phân biệt của rối loạn lo âu bệnh tật bao gồm các bệnh lý nội khoa tổng quát cũng như các rối loạn tâm thần như: rối loạn thích ứng, rối loạn triệu chứng cơ thể, rối loạn lo âu lan tỏa, rối loạn ám ảnh cưỡng chế, ám ảnh sợ đặc hiệu, rối loạn hoảng sợ, rối loạn mặc cảm ngoại hình, các rối loạn loạn thần và rối loạn trầm cảm. (Xem ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)