Đánh giá bệnh nhân
Nhìn chung, bệnh nhân vảy nến cần được đánh giá tại thời điểm chẩn đoán và định kỳ sau đó để tầm soát các yếu tố nguy cơ, dấu hiệu và triệu chứng của các bệnh đồng mắc.
Dựa trên kết quả đánh giá lâm sàng, các xét nghiệm hoặc thăm dò chuyên sâu hơn sẽ được thực hiện khi có chỉ định.
Theo Đồng thuận năm 2008 của Ban biên tập Tạp chí Tim mạch Hoa Kỳ (American Journal of Cardiology) về bệnh vảy nến và bệnh động mạch vành, bệnh nhân vảy nến mức độ trung bình đến nặng cần được thông báo về khả năng tăng nguy cơ mắc bệnh động mạch vành (CAD) 163. Ngoài ra, hội đồng khuyến nghị triển khai các biện pháp sau cho bệnh nhân vảy nến mức độ trung bình đến nặng và cân nhắc áp dụng cho bệnh nhân thể nhẹ:
- Đánh giá tiền sử cá nhân và gia đình về bệnh động mạch vành
- Kiểm tra huyết áp hàng năm
- Tầm soát bộ mỡ máu (lipid profile) và đường huyết lúc đói
- Điều trị các yếu tố nguy cơ gây bệnh động mạch vành
Một tuyên bố đồng thuận năm 2008 từ Hiệp hội Vảy nến Quốc gia (National Psoriasis Foundation) cũng đưa ra các khuyến cáo về đánh giá bệnh đồng mắc ở bệnh nhân vảy nến 164. Bên cạnh việc hỗ trợ các khuyến cáo tiêu chuẩn nhằm nhận diện và giảm nguy cơ tim mạch (ví dụ: cai thuốc lá, giảm cân và tăng cường hoạt động thể chất), hội đồng đồng thuận khuyến nghị các biện pháp sau (xem “Tổng quan về dự phòng cấp 1 bệnh tim mạch ở người trưởng thành”):
- Can thiệp để nhận diện và kiểm soát trầm cảm
- Hạn chế uống rượu bia
- Cảnh giác với các dấu hiệu của lymphoma, ung thư biểu mô da và u đặc (tầm soát phù hợp với độ tuổi, khám da hàng năm cho bệnh nhân đang điều trị thuốc ức chế miễn dịch hoặc có tiền sử điều trị PUVA, theo dõi sát các mảng vảy nến có biểu hiện không điển hình)
- Theo dõi định kỳ sự khởi phát của viêm khớp vảy nến (xem “Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán viêm khớp vảy nến”, phần ‘Tiêu chuẩn phân loại’)
Việc chuyển tuyến đến các chuyên khoa như tim mạch, tiêu hóa, gan mật, thận, tâm thần và hô hấp có thể mang lại lợi ích tùy thuộc vào sự hiện diện của các dấu hiệu hoặc triệu chứng của những bệnh đồng mắc cụ thể.
TÓM TẮT
Tổng quan – Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy bệnh vảy nến là một rối loạn viêm đa hệ thống với nhiều bệnh đồng mắc. Ví dụ về các rối loạn liên quan đến vảy nến bao gồm béo phì, hội chứng chuyển hóa, tăng huyết áp, đái tháo đường, xơ vữa động mạch, ung thư, các bệnh lý gan, phổi và bệnh tâm thần. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Béo phì, hội chứng chuyển hóa và bệnh xơ vữa động mạch – Bản chất viêm mạn tính của bệnh vảy nến có thể góp phần tạo nên mối liên hệ giữa vảy nến với béo phì, hội chứng chuyển hóa và bệnh xơ vữa động mạch. Cần có thêm các nghiên cứu để làm rõ bản chất của mối quan hệ giữa vảy nến và các bệnh lý này. (Xem ‘Béo phì’ và ‘Hội chứng chuyển hóa’ ở dưới.)
Tác động tâm lý xã hội – Tác động tâm lý xã hội của bệnh vảy nến không phải lúc nào cũng tỷ lệ thuận với mức độ nặng của tổn thương da. Bệnh nhân vảy nến mức độ nhẹ vẫn có thể gặp suy giảm chất lượng cuộc sống nghiêm trọng liên quan đến bệnh. (Xem ‘Tác động tâm lý xã hội’ ở dưới.)
Tác động đến quản lý bệnh nhân – Việc nhận diện mối liên hệ giữa vảy nến và các bệnh lý khác giúp tạo điều kiện chẩn đoán và điều trị sớm các bệnh đồng mắc. Đánh giá các yếu tố nguy cơ, dấu hiệu và triệu chứng của các bệnh đồng mắc tiềm tàng là một thành phần quan trọng trong quản lý bệnh nhân. (Xem ‘Đánh giá và quản lý’ ở dưới.)