TÓM TẮT
Tổng quan – Hội chứng Lynch là một rối loạn di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, gây ra bởi đột biến dòng mầm ở một trong các gen sửa chữa sai sót DNA (MLH1, MSH2, MSH6 và PMS2) hoặc mất đoạn gen EPCAM. Đặc trưng của hội chứng Lynch là tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng (CRC). Những người mắc hội chứng Lynch cũng có nguy cơ cao mắc các bệnh ung thư ngoài đại trực tràng, phổ biến nhất là ung thư nội mạc tử cung. Các vị trí ung thư khác bao gồm buồng trứng, dạ dày, ruột non, hệ thống tụy mật, hệ tiết niệu (ung thư biểu mô niệu), tuyến tiền liệt, não và da. Ngoài ra, nguy cơ ung thư vú cũng có thể tăng ở những cá thể mắc hội chứng này. Các hướng dẫn sàng lọc từ các nhóm chuyên gia có giá trị quan trọng, nhưng cần được điều chỉnh linh hoạt theo tiền sử ung thư trong gia đình. (Xem thêm phần ‘Thuật ngữ’ ở dưới và “Hội chứng Lynch (ung thư đại trực tràng không đa polyp di truyền): Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán”, phần ‘Đặc điểm lâm sàng’.)
Sàng lọc các bệnh ung thư liên quan đến hội chứng Lynch – Đối với những cá thể mắc hội chứng Lynch, chúng tôi đề xuất phương pháp tiếp cận sàng lọc như sau:
- Đối với bệnh nhân có biến thể gây bệnh trong gen MLH1 và MSH2: Nội soi đại tràng định kỳ hàng năm hoặc 2 năm một lần, bắt đầu từ 20 đến 25 tuổi, hoặc sớm hơn 2 đến 5 năm so với độ tuổi chẩn đoán CRC sớm nhất trong gia đình (tùy điều kiện nào đến trước).
- Đối với người mang đột biến MSH6 và PMS2: Việc sàng lọc có thể bắt đầu muộn hơn (từ 30 đến 35 tuổi hoặc sớm hơn 2 đến 5 năm so với ca CRC sớm nhất trong gia đình), trừ khi trong gia đình có tiền sử chẩn đoán CRC khởi phát sớm; tần suất nội soi từ 1 đến 3 năm một lần. Quyết định về tuổi bắt đầu sàng lọc và khoảng cách giữa các lần nội soi nên được đưa ra sau khi xem xét kỹ tiền sử gia đình và thảo luận với bệnh nhân về những ưu, nhược điểm của việc sàng lọc tích cực. (Xem thêm phần ‘Ung thư đại trực tràng’ ở dưới.)
- Việc sàng lọc và dự phòng ung thư nội mạc tử cung và ung thư buồng trứng được thảo luận chi tiết trong một phần riêng. (Xem “Hội chứng Lynch (ung thư đại trực tràng không đa polyp di truyền): Sàng lọc và dự phòng ung thư nội mạc tử cung và buồng trứng”, phần ‘Chiến lược giảm nguy cơ ung thư’.)
- Nội soi tiêu hóa trên kèm sinh thiết dạ dày bắt đầu từ 30 đến 35 tuổi và điều trị nhiễm Helicobacter pylori khi phát hiện. Thông thường, chúng tôi kết hợp nội soi tiêu hóa trên với mỗi lần nội soi đại tràng thứ hai, nghĩa là bệnh nhân được sàng lọc này định kỳ 2 đến 4 năm một lần. Những người mang đột biến MSH6 và PMS2 nội soi đại tràng mỗi 3 năm sẽ được nội soi tiêu hóa trên song song với mỗi lần nội soi đại tràng. Ngoài ra, chúng tôi kiểm tra kỹ tá tràng xa trong khi nội soi tiêu hóa trên và hồi tràng cuối trong khi nội soi đại tràng để tầm soát ung thư ruột non.
- Xét nghiệm nước tiểu và tế bào học nước tiểu hàng năm bắt đầu từ 30 đến 35 tuổi cho tất cả bệnh nhân mắc hội chứng Lynch, sau khi đã trao đổi kỹ về những hạn chế và việc thiếu dữ liệu hỗ trợ cho phương pháp sàng lọc này. Những bệnh nhân có nguy cơ cao mắc ung thư biểu mô niệu liên quan đến Lynch, bao gồm người mang đột biến MSH2, người hút thuốc, nam giới và những người có tiền sử gia đình mắc ung thư biểu mô niệu, được khuyến khích thực hiện sàng lọc. Bệnh nhân có kết quả sàng lọc bất thường sẽ được chuyển đến chuyên khoa tiết niệu để đánh giá thêm.
- Khám sức khỏe tổng quát hàng năm bởi bác sĩ chăm sóc chính bắt đầu từ 20 đến 25 tuổi.
- Ít nhất một lần khám da toàn diện bởi bác sĩ da liễu để đảm bảo bệnh nhân không có các biểu hiện ngoài da của hội chứng Lynch. Chúng tôi bắt đầu sàng lọc cho bệnh nhân trong độ tuổi từ 40 đến 50, trừ khi các biểu hiện da của hội chứng Lynch xuất hiện sớm hơn trong gia đình. Tần suất tái khám do bác sĩ da liễu quyết định tùy theo nhu cầu, nhưng tối thiểu là 1 đến 3 năm một lần.
Bệnh nhân có tân sinh đại trực tràng – Đối với những trường hợp ung thư đại tràng hoặc u tuyến không thể phẫu thuật cắt bỏ, phẫu thuật cắt toàn bộ đại tràng và nối hồi tràng – trực tràng là một lựa chọn. Ở bệnh nhân hội chứng Lynch mắc ung thư trực tràng, phẫu thuật cắt toàn bộ đại trực tràng và tạo hình túi hồi tràng nối hậu môn là phương pháp giảm nguy cơ triệt để nhất do nguy cơ cao mắc ung thư đại tràng khởi phát sau (metachronous). Tuy nhiên, phạm vi phẫu thuật nên dựa trên độ tuổi chẩn đoán, các yếu tố có thể làm tăng khả năng kết quả chức năng kém và nguyện vọng của bệnh nhân. Những bệnh nhân phẫu thuật cắt đại tràng phân đoạn, đặc biệt là những người mang đột biến MLH1 và MSH2, sẽ có nguy cơ mắc ung thư đại tràng khởi phát sau, với tỷ lệ lên đến khoảng 20% sau 10 năm. Phẫu thuật mở rộng hơn làm giảm tỷ lệ ung thư khởi phát sau nhưng không cho thấy sự cải thiện về các kết cục lâm sàng khác.
Sau phẫu thuật điều trị CRC, bệnh nhân cần tiếp tục nội soi theo dõi hàng năm đối với đoạn đại tràng còn lại do nguy cơ cao mắc ung thư khởi phát sau.
Dự phòng hóa học – Đối với bệnh nhân mắc hội chứng Lynch, chúng tôi đề xuất sử dụng aspirin vì thuốc này có thể làm giảm tỷ lệ mắc CRC (Khuyến cáo 2C). Cần có thêm các nghiên cứu trên nhóm đối tượng này để làm rõ tác động của aspirin trong việc giảm nguy cơ CRC, cũng như xác định liều dùng và thời gian sử dụng tối ưu. (Xem thêm phần ‘Dự phòng hóa học’ ở dưới.)