TÓM TẮT
- Nguyên tắc chung
Bệnh nhân mang thai mắc cúm mùa có nguy cơ nhập viện, nhập khoa hồi sức tích cực (ICU) và tỷ lệ tử vong cao hơn so với quần thể chung. Cúm ở người mẹ cũng làm tăng nguy cơ xảy ra các kết cục thai kỳ bất lợi (ví dụ: dị tật bẩm sinh, sinh non, thai chết lưu). (Xem mục ‘Ảnh hưởng đến thai kỳ’ ở dưới.)
- Biểu hiện lâm sàng
Biểu hiện lâm sàng của cúm ở bệnh nhân mang thai và sau sinh tương tự như ở quần thể chung, bao gồm sốt khởi phát đột ngột, ho khan và đau cơ. Các triệu chứng không điển hình khác bao gồm mệt mỏi, đau họng, buồn nôn, nghẹt mũi và đau đầu. (Xem mục ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
- Chẩn đoán
Nên nghi ngờ chẩn đoán cúm không biến chứng ở những bệnh nhân có sốt, ho và đau cơ khởi phát đột ngột khi virus cúm đang lưu hành (ở Bắc bán cầu thường từ tháng 9 đến tháng 4; ở Nam bán cầu thường từ tháng 4 đến tháng 9). Kết quả xét nghiệm dương tính với virus cúm sẽ xác nhận chẩn đoán. Tuy nhiên, kết quả xét nghiệm âm tính không thể loại trừ nhiễm trùng, đặc biệt nếu xét nghiệm không đủ độ nhạy hoặc mẫu bệnh phẩm được thu thập sau 4 ngày kể từ khi khởi phát bệnh. (Xem mục ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
- Xử trí
- Kiểm soát nhiễm khuẩn: Các vấn đề chung liên quan đến biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn để dự phòng cúm mùa (ví dụ: vệ sinh tay và đường hô hấp, phòng ngừa lây truyền qua giọt bắn) tương tự như ở bệnh nhân không mang thai và được trình bày trong bảng (bảng 1). (Xem mục ‘Biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn’ ở dưới.)
- Điều trị kháng virus: Đối với bệnh nhân mang thai và sau sinh (trong vòng hai tuần sau sinh hoặc sau khi sẩy/sao thai) nghi ngờ hoặc đã xác định mắc cúm, chúng tôi khuyến cáo điều trị kháng virus càng sớm càng tốt, bất kể tình trạng tiêm phòng (Khuyến cáo 1C). Không nên trì hoãn điều trị trong khi chờ kết quả xét nghiệm chẩn đoán hoặc trong những trường hợp không thực hiện xét nghiệm. (Xem mục ‘Điều trị kháng virus’ ở dưới.)
- Lựa chọn thuốc kháng virus: Chúng tôi đề xuất điều trị bằng oseltamivir (Khuyến cáo 2C). Các lựa chọn thay thế bao gồm peramivir hoặc zanamivir; liều lượng được tóm tắt ở trên. Tuy nhiên, baloxavir nhìn chung không được sử dụng cho bệnh nhân mang thai hoặc sau sinh do thiếu dữ liệu về an toàn và hiệu quả. (Xem mục ‘Thuốc kháng virus’ ở dưới.)
- Kiểm soát triệu chứng: Sốt nên được điều trị bằng acetaminophen. (Xem mục ‘Kiểm soát triệu chứng’ ở dưới.)
- Dự phòng (Xem mục ‘Tiêm chủng’ ở dưới.)
Chúng tôi khuyến cáo tiêm vắc-xin phòng virus cúm cho tất cả bệnh nhân đang mang thai, dự định mang thai hoặc trong giai đoạn sau sinh trong mùa cúm (Khuyến cáo 1A), bất kể đang ở tam cá nguyệt nào. Các vấn đề liên quan đến thời điểm tiêm chủng đã được thảo luận ở trên. Tiêm vắc-xin cúm trong thời kỳ mang thai giúp bảo vệ người mẹ và cũng có thể giảm nguy cơ mắc cúm cho trẻ sơ sinh trong sáu tháng đầu đời (khi trẻ còn quá nhỏ để tiêm vắc-xin cúm).
Những bệnh nhân này nên được tiêm bất kỳ loại vắc-xin cúm bất hoạt (IIV) hoặc vắc-xin cúm tái tổ hợp được cấp phép; họ không được tiêm vắc-xin cúm sống giảm độc lực (LAIV). Không có ghi nhận về việc tăng nguy cơ xảy ra các kết cục bất lợi cho thai kỳ hoặc thai nhi ở những bệnh nhân mang thai đã tiêm vắc-xin cúm.
- Các lưu ý đặc biệt
- Trẻ sơ sinh: Trẻ sơ sinh không có triệu chứng (sinh tại bệnh viện và được áp dụng các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn) nên được xem là đối tượng tiếp xúc, không phải đối tượng nhiễm bệnh. Những trẻ này có thể được chăm sóc tại phòng dưỡng nhi bằng các biện pháp phòng ngừa chuẩn và cần được theo dõi các dấu hiệu nhiễm trùng; việc sử dụng dự phòng kháng virus thường quy là không được khuyến cáo. (Xem mục ‘Trẻ sơ sinh có mẹ mắc cúm’ ở dưới.)
- Người tiếp xúc trong hộ gia đình và người chăm sóc trẻ: Tất cả các thành viên trong gia đình và người chăm sóc trẻ đủ điều kiện nên được tiêm vắc-xin phòng virus cúm. Các vấn đề liên quan đến dự phòng kháng virus cho thành viên gia đình và người chăm sóc trẻ tiếp xúc gần với người mắc cúm được thảo luận riêng. (Xem mục ‘Người tiếp xúc trong hộ gia đình và người chăm sóc trẻ’ ở dưới và “Cúm mùa ở người lớn: Vai trò của dự phòng kháng virus trong phòng bệnh”, phần ‘Dự phòng kháng virus sau phơi nhiễm’.)