Chứng sợ khoảng trống ở người lớn: Dịch tễ học, cơ chế bệnh sinh, biểu hiện lâm sàng, diễn tiến và chẩn đoán

TÓM TẮT

Chứng sợ khoảng trống (Agoraphobia) – Chứng sợ khoảng trống được định nghĩa là tình trạng lo âu về và/hoặc né tránh các tình huống mà tại đó sự hỗ trợ có thể không sẵn có, hoặc khó có thể thoát ra ngoài khi xuất hiện các triệu chứng giống hoảng sợ hoặc các triệu chứng khác gây mất khả năng hoạt động hoặc gây xấu hổ. Các tình huống thường gây sợ hãi bao gồm nơi đông người, trung tâm thương mại, lái xe, sử dụng phương tiện giao thông công cộng và khi ở xa nhà. (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)

Chứng sợ khoảng trống là một rối loạn độc lập, có thể đi kèm hoặc không đi kèm với rối loạn hoảng sợ và các cơn hoảng sợ. Sự né tránh trong chứng sợ khoảng trống thường phát triển như một phản ứng đối với các cơn hoảng sợ bất ngờ; từ đó người bệnh né tránh một số tình huống nhất định nhằm ngăn chặn các cơn hoảng sợ trong tương lai và/hoặc tránh rơi vào trạng thái mất khả năng kiểm soát và không thể thoát ra nếu cơn hoảng sợ xảy ra. Trong trường hợp không có các triệu chứng/rối loạn hoảng sợ, chứng sợ khoảng trống phát triển do các nỗi sợ khác, ví dụ như sợ bị mất khả năng hoạt động hoặc không thể đối phó trong các tình huống cụ thể. (Xem thêm mục ‘Các yếu tố nhận thức’ ở dưới và “Rối loạn hoảng sợ ở người trưởng thành: Dịch tễ học, biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán”.)

Dịch tễ học – Chứng sợ khoảng trống phổ biến ở nữ giới hơn nam giới. Các rối loạn đồng mắc thường gặp bao gồm các rối loạn lo âu khác, rối loạn khí sắc và rối loạn sử dụng chất. (Xem thêm mục ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)

Cơ chế bệnh sinh – Nhiều yếu tố căn nguyên liên quan đến sự phát triển của chứng sợ khoảng trống, bao gồm các yếu tố sinh học, tính cách, nhận thức và các yếu tố xã hội/môi trường. (Xem thêm mục ‘Cơ chế bệnh sinh’ ở dưới.)

Biểu hiện lâm sàng – Mức độ né tránh trong chứng sợ khoảng trống rất đa dạng. Trong những trường hợp nghiêm trọng, bệnh nhân có thể không dám ra khỏi nhà. Người bệnh có thể thực hiện nhiều hành vi an toàn để kiểm soát lo âu khi đối mặt với các tình huống gây sợ hãi, bao gồm việc đi cùng một người đồng hành để tăng cảm giác an tâm, mang theo điện thoại di động hoặc thuốc chống lo âu, và ngồi gần lối thoát hiểm hoặc cửa ra vào để dễ dàng thoát ra khi cần thiết (bảng 2). (Xem thêm mục ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

Diễn tiến – Độ tuổi khởi phát trung vị của chứng sợ khoảng trống là 20. Nếu không được điều trị, bệnh thường diễn tiến mạn tính và không thuyên giảm. (Xem thêm mục ‘Diễn tiến’ ở dưới.)

Chẩn đoán – Là một phần của quá trình đánh giá toàn diện chứng sợ khoảng trống, chúng tôi thực hiện đánh giá các nội dung sau (xem mục ‘Chẩn đoán’ ở dưới):

  • Tiêu điểm của nỗi sợ
  • Phạm vi các tình huống gây sợ hãi
  • Lý do dẫn đến sự né tránh
  • Các yếu tố ảnh hưởng đến tính chất và cường độ của nỗi sợ
  • Sự hiện diện của các hành vi an toàn
  • Sự hiện diện của các cơn hoảng sợ và rối loạn hoảng sợ

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here