TÓM TẮT
Các thành phần trong điều trị – Trụ cột trong điều trị rối loạn lưỡng cực ở trẻ em là dược lý trị liệu. Bên cạnh đó, liệu pháp tâm lý bổ trợ thường được xem là thiết yếu, đồng thời môi trường học đường cũng thường được điều chỉnh để phù hợp. (Xem thêm ‘Các thành phần trong điều trị’ ở dưới.)
Thiết lập điều trị – Mức độ chăm sóc, tần suất thăm khám và theo dõi được tăng cường trong các giai đoạn triệu chứng trầm trọng hoặc khi bệnh nhân có nguy cơ cao về hành vi tự sát hoặc hành vi nguy hiểm. (Xem thêm ‘Thiết lập điều trị’ ở dưới.)
Giai đoạn hưng cảm
- Thuốc khởi trị – Đối với bệnh nhi trong giai đoạn hưng cảm, chúng tôi khuyến cáo sử dụng thuốc chống loạn thần thế hệ hai là lựa chọn dược lý điều trị bước một, thay vì các loại thuốc khác (Khuyến cáo 2C). Các lựa chọn được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi nhất bao gồm aripiprazole, asenapine, olanzapine, quetiapine và risperidone; việc lựa chọn cụ thể tùy thuộc vào các yếu tố như đáp ứng với thuốc trước đó, đặc tính tác dụng phụ và các bệnh đồng mắc. Nếu bệnh nhân không đáp ứng hoặc không dung nạp một loại thuốc chống loạn thần, chúng tôi sẽ giảm liều và ngưng thuốc trong vòng một đến hai tuần, đồng thời bắt đầu khởi trị và tăng liều một loại thuốc chống loạn thần khác. (Xem thêm ‘Khởi trị bằng thuốc chống loạn thần’ ở dưới.)
- Bệnh nhân kháng thuốc chống loạn thần – Hưng cảm ở trẻ em thường không đáp ứng với điều trị sau nhiều lần thử (ví dụ: từ hai đến ba loại) thuốc chống loạn thần thế hệ hai. Đối với những bệnh nhân kháng trị này, chúng tôi đề xuất sử dụng lithium thay vì các thuốc khác (Khuyến cáo 2C). (Xem thêm ‘Bệnh nhân kháng thuốc chống loạn thần’ ở dưới.)
- Bệnh nhân vô đáp với điều trị – Hưng cảm ở trẻ em không đáp ứng với đơn trị liệu bằng thuốc chống loạn thần thế hệ hai hoặc lithium thường được quản lý bằng phối hợp thuốc từ các nhóm khác nhau, chẳng hạn như thuốc chống loạn thần thế hệ hai phối hợp với lithium. Các phối hợp tiềm năng khác bao gồm thuốc chống loạn thần thế hệ hai phối hợp divalproex hoặc lamotrigine; lithium phối hợp divalproex hoặc lamotrigine; hoặc thuốc chống loạn thần thế hệ một phối hợp lithium, divalproex hoặc lamotrigine. (Xem thêm ‘Bệnh nhân vô đáp với điều trị’ ở dưới.)
- Liệu pháp tâm lý bổ trợ – Liệu pháp tâm lý gần như luôn được chỉ định như một phương pháp bổ trợ cho dược lý trị liệu trong điều trị rối loạn lưỡng cực ở trẻ em. Đối với trẻ em và thanh thiếu niên mắc rối loạn lưỡng cực, chúng tôi đề xuất giáo dục tâm lý (psychoeducation) làm liệu pháp tâm lý bổ trợ, thay vì các lựa chọn khác (Khuyến cáo 2B). (Xem thêm ‘Liệu pháp tâm lý bổ trợ’ ở dưới.)
- Hưng cảm kèm rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) – Rối loạn lưỡng cực ở trẻ em thường đồng mắc với ADHD. Đối với trẻ em và thanh thiếu niên trong giai đoạn hưng cảm kèm ADHD, chúng tôi đề xuất đơn trị liệu bằng thuốc chống loạn thần thế hệ hai thay vì liệu pháp phối hợp (Khuyến cáo 2C). (Xem thêm ‘Rối loạn tăng động giảm chú ý’ ở dưới.)
Nếu các triệu chứng lưỡng cực đáp ứng với thuốc chống loạn thần thế hệ hai nhưng ADHD đồng mắc vẫn tồn tại, chúng tôi sẽ bổ sung điều trị đặc hiệu cho ADHD. (Xem thêm “Rối loạn tăng động giảm chú ý ở trẻ em và thanh thiếu niên: Tổng quan về điều trị và tiên lượng”.)
Trầm cảm lưỡng cực – Trầm cảm lưỡng cực ở trẻ em và thanh thiếu niên thường được điều trị phối hợp dược lý trị liệu và liệu pháp tâm lý. (Xem thêm “Trầm cảm chủ yếu trong rối loạn lưỡng cực ở trẻ em: Điều trị”.)
Duy trì dược lý trị liệu – Sau khi giai đoạn cấp của rối loạn khí sắc lưỡng cực đã ổn định, chúng tôi khuyến cáo duy trì dược lý trị liệu để ngăn ngừa tái phát (Khuyến cáo 1A). Thông thường, chúng tôi sử dụng cùng một phác đồ đã có hiệu quả trong giai đoạn điều trị cấp, với điều kiện phác đồ đó được dung nạp tốt. Thời gian điều trị duy trì tối thiểu thường là từ một đến hai năm. (Xem thêm ‘Theo dõi và điều trị duy trì’ ở dưới.)