TÓM TẮT
Lợi ích tiềm năng – Mặc dù aspirin giúp giảm đáng kể tỷ lệ tử vong và bệnh tật do bệnh tim mạch (CVD) ở những bệnh nhân từng gặp các biến cố xơ vữa động mạch tim mạch (dự phòng cấp 2), nhưng lợi ích và tác hại ở những người khỏe mạnh lại ở mức tương đương (dự phòng cấp 1). Ở những bệnh nhân chưa có tiền sử biến cố tim mạch, aspirin làm giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim (MI) không tử vong nhưng lại làm tăng nguy cơ xuất huyết nghiêm trọng. Aspirin có thể làm giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng nếu điều trị dài hạn (trên 10 năm). (Xem thêm ‘Lợi ích tiềm năng’, ‘Ung thư đại trực tràng’ và ‘Xuất huyết’ ở dưới.)
Đánh giá nguy cơ – Cách tiếp cận cá thể hóa trong việc quyết định điều trị aspirin dự phòng cấp 1 bắt đầu bằng việc đánh giá nguy cơ gặp biến cố tim mạch, ung thư đại trực tràng và xuất huyết nghiêm trọng khi dùng aspirin hàng ngày (sơ đồ 1). Mặc dù hiện có nhiều công cụ ước tính nguy cơ mắc bệnh tim mạch do xơ vữa (ASCVD) trong tương lai, nhưng chưa có công cụ nào cung cấp tính toán tỷ lệ lợi ích/nguy cơ bao quát toàn bộ các yếu tố này. (Xem thêm ‘Đánh giá nguy cơ’ ở dưới.)
Tìm hiểu giá trị và nguyện vọng của bệnh nhân – Sau khi đánh giá lợi ích và nguy cơ cụ thể của từng bệnh nhân đối với liệu pháp aspirin dự phòng cấp 1, chúng tôi tìm hiểu quan điểm và nguyện vọng của họ. Điều này bao gồm thái độ của bệnh nhân đối với việc dùng thuốc hàng ngày trong thời gian dài và mức độ ưu tiên đối với việc ngăn ngừa các kết cục cụ thể, chẳng hạn như việc chấp nhận tăng nguy cơ xuất huyết tức thời để đổi lấy lợi ích tiềm năng trong việc giảm biến cố tim mạch và ung thư về sau. (Xem thêm ‘Xác định giá trị và nguyện vọng của bệnh nhân’ ở dưới.)
Không dùng aspirin cho đa số bệnh nhân – Đối với những người từ 70 tuổi trở lên và những người từ 40 đến 69 tuổi có nguy cơ thấp mắc biến cố ASCVD hoặc ung thư đại trực tràng, chúng tôi khuyến cáo không nên bắt đầu điều trị aspirin để dự phòng cấp 1 (Khuyến cáo 2C). “Nguy cơ thấp” bao gồm nguy cơ ASCVD trong 10 năm <5% và nguy cơ ung thư đại trực tràng trong 20 năm <5%. Đối với những bệnh nhân này, cán cân lợi ích và nguy cơ nghiêng về phía không dùng aspirin. (Xem thêm ‘Định nghĩa về nguy cơ’ và ‘Khuyến cáo cụ thể cho từng bệnh nhân’ ở dưới.)
Ra quyết định cá thể hóa cho nhóm nguy cơ trung bình đến cao – Chúng tôi cá thể hóa quyết định sử dụng aspirin dự phòng cấp 1 cho những người từ 40 đến 69 tuổi có nguy cơ trung bình hoặc cao mắc bệnh tim mạch và ung thư (sơ đồ 1). “Nguy cơ trung bình đến cao” bao gồm những người có nguy cơ ASCVD trong 10 năm ≥5% và nguy cơ ung thư đại trực tràng trong 20 năm ≥5%. (Xem thêm ‘Định nghĩa về nguy cơ’ và ‘Khuyến cáo cụ thể cho từng bệnh nhân’ ở dưới.)
Đối với hầu hết những bệnh nhân này, lợi ích và tác hại của liệu pháp aspirin dự phòng cấp 1 ở mức tương đương. Ở những bệnh nhân có nguy cơ ASCVD và/hoặc ung thư đại trực tràng cao hơn, không ngại dùng thuốc, lo ngại về việc phòng ngừa nhồi máu cơ tim nhiều hơn là lo ngại về xuất huyết, và lạc quan về khả năng giảm tỷ lệ ung thư đại trực tràng, thì việc sử dụng aspirin liều thấp hàng ngày là một lựa chọn hợp lý. Bảng dưới đây tóm tắt ngắn gọn các bằng chứng chính để hỗ trợ quá trình thảo luận (bảng 1). (Xem thêm ‘Bệnh nhân từ 40 đến 69 tuổi’ ở dưới.)
Liều dùng – Đối với những bệnh nhân quyết định bắt đầu điều trị aspirin dự phòng cấp 1, chúng tôi sử dụng liều từ 75 đến 100 mg mỗi ngày; đây là mức liều tối ưu để giảm nguy cơ ASCVD và hạn chế tối đa nguy cơ xuất huyết. (Xem thêm ‘Liều dùng’ ở dưới.)