TÓM TẮT
Định nghĩa – Gắng sức hô hấp xảy ra khi hoạt động hô hấp không đáp ứng đủ nhu cầu chuyển hóa oxy của cơ thể do thất bại trong quá trình oxy hóa và/hoặc thông khí. Tình trạng này điển hình bởi các dấu hiệu tăng công hô hấp như thở nhanh, sử dụng các cơ hô hấp phụ và/hoặc co kéo lồng ngực. Ở trẻ nhỏ, các dấu hiệu như gật đầu, phập phồng cánh mũi và thở rên thường gặp hơn. Tần số hô hấp chậm bất thường so với tình trạng lâm sàng cũng là một dấu hiệu của gắng sức hô hấp và có thể cảnh báo sắp ngừng hô hấp. Kiểu thở bất thường là một dấu hiệu gắng sức hô hấp có thể cung cấp manh mối về căn nguyên. (Xem ‘Định nghĩa’ ở dưới.)
Gắng sức hô hấp ở trẻ em có thể phát triển do nhiều nguyên nhân dẫn đến (bảng 1) (xem ‘Định nghĩa’ ở dưới):
- Giảm oxy máu. (Xem “Điều hòa thông khí”, phần ‘Thử thách giảm oxy’.)
- Tăng CO2 máu. (Xem “Điều hòa thông khí”, phần ‘Thử thách tăng CO2’.)
- Rối loạn cơ học hô hấp, thường do tắc nghẽn đường thở, yếu cơ hoặc khó chịu (ví dụ: bệnh nhân co cứng thành bụng do đau bụng).
- Rối loạn điều hòa thông khí, trong đó hô hấp có thể bị ức chế (ví dụ: quá liều opioid, chấn thương sọ não nặng) hoặc bị kích thích (ví dụ: toan chuyển hóa, tăng amoniac máu, ngộ độc salicylate).
Gắng sức hô hấp đáp ứng với giảm oxy máu hoặc tăng CO2 máu có thể tiến triển nhanh chóng thành suy hô hấp đe dọa tính mạng. Trẻ sơ sinh, trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ có nguy cơ đặc biệt cao do mức tiêu thụ oxy cao hơn và dự trữ hô hấp kém hơn. (Xem ‘Định nghĩa’ ở dưới và “Quản lý đường thở cấp cứu ở trẻ em: Những lưu ý đặc thù ở nhi khoa”.)
Nguyên nhân – Nhiều bệnh lý có thể gây ra gắng sức hô hấp cấp tính ở trẻ em (bảng 1). Yếu tố khởi phát thường nằm ở hệ hô hấp, nhưng cũng có thể do tổn thương ở các hệ cơ quan khác và không dễ nhận biết ngay lập tức (ví dụ: sốt và rale phổi có thể là biểu hiện của suy tim do viêm cơ tim hơn là viêm phổi, mặc dù viêm phổi phổ biến hơn). (Xem ‘Nguyên nhân’ ở dưới.)