TÓM TẮT
Tổng quan – Siêu âm (US) là một phương pháp chẩn đoán hình ảnh sử dụng các xung sóng âm tần số cao (siêu âm) phản hồi để đánh giá mô mềm, sụn, bề mặt xương và các cấu trúc chứa dịch.
Kỹ thuật thu hình – Trong thực hành lâm sàng, việc lựa chọn các cấu trúc giải phẫu và mặt cắt hình ảnh phụ thuộc vào triệu chứng của bệnh nhân (Xem thêm ‘Lựa chọn hình ảnh dựa trên triệu chứng’ ở dưới).
Loại thiết bị siêu âm (ví dụ: tần số và hình dạng đầu dò) cũng như chế độ vận hành (ví dụ: chế độ B – B-mode, thang xám, Doppler màu hoặc Doppler năng lượng) sẽ tùy thuộc vào vị trí, kích thước, độ sâu và tính chất của những thay đổi bệnh lý cần đánh giá tại vùng quan tâm (Xem thêm “Siêu âm cơ xương khớp: Danh pháp, cân nhắc kỹ thuật và các nguyên tắc sử dụng cơ bản”).
Siêu âm trong các bệnh lý cụ thể – Siêu âm cơ xương khớp cho phép hình ảnh hóa gân, dây chằng, cơ, điểm bám gân, túi thanh mạc, khớp, sụn và các dây thần kinh ngoại biên, đồng thời có thể phát hiện tình trạng bào mòn xương và viêm màng hoạt dịch (Xem thêm ‘Siêu âm trong các bệnh lý cụ thể’ ở dưới).
Bất thường ở gân và cơ – Một phần thiết yếu trong thăm khám siêu âm gân là thực hiện nghiệm pháp động (di chuyển khớp hoặc chi) để đánh giá sự vận động của gân và tính toàn vẹn về mặt giải phẫu. Hình ảnh siêu âm của gân bất thường đặc trưng bởi các vùng giảm âm, trong khi rách toàn bộ chiều dày gân có thể biểu hiện bằng sự mất hoàn toàn cấu trúc gân hoặc đứt cơ kèm theo co rút. Sự hiện diện của khối máu tụ đi kèm được đặc trưng bởi các vùng trống âm hoặc giảm âm, hoặc hình ảnh hỗn hợp bất thường với hiệu ứng khối trên siêu âm và tín hiệu dịch trên MRI. Đối với cơ bất thường, chẳng hạn như trong bệnh lý cơ viêm, hình ảnh siêu âm đặc trưng bởi sự tăng hồi âm và giảm kích thước của các sợi cơ giảm âm phân tách bởi mô liên kết quanh bó cơ (Xem thêm ‘Bất thường ở gân và cơ’ ở dưới).
Viêm điểm bám gân – Viêm điểm bám gân ngoại biên là một trong những dấu hiệu điển hình của viêm cột sống khớp. Các phát hiện trên siêu âm bao gồm dày điểm bám hoặc giảm hồi âm tại nơi gân bám, lắng đọng vôi hóa tại điểm bám, gai xương, bào mòn, hình thành xương mới hoặc các thay đổi màng xương (hình 11). Có thể tìm thấy viêm túi thanh mạc lân cận, tuy nhiên tình trạng này cũng thường gặp ở người khỏe mạnh (Xem thêm ‘Viêm điểm bám gân’ ở dưới).
Viêm túi thanh mạc
- Viêm túi dưới cơ delta – dưới mỏm cùng vai – Hình ảnh siêu âm cho thấy túi thanh mạc giãn, chứa đầy dịch trống âm hoặc giảm âm (hình 13A-B). Những bệnh nhân xác định viêm túi dưới cơ delta – dưới mỏm cùng vai cần được thăm khám thêm để tìm rách chóp xoay đi kèm, biểu hiện là một khe thông nối giữa khớp ổ chảo – cánh tay và túi thanh mạc (hình 13B). (Xem thêm ‘Túi dưới cơ delta – dưới mỏm cùng vai’ ở dưới và “Viêm túi thanh mạc: Biểu hiện lâm sàng, chẩn đoán và xử trí”, phần ‘Viêm túi dưới mỏm cùng vai/dưới cơ delta’).
- Viêm túi mỏm khuỷu – Siêu âm trong viêm túi mỏm khuỷu nhiễm trùng hoặc mạn tính thường cho thấy một ổ tụ dịch bao quanh bởi thành túi dày lên. Tín hiệu Doppler năng lượng thường tăng mạnh (Xem thêm ‘Túi mỏm khuỷu’ ở dưới và “Viêm túi thanh mạc: Biểu hiện lâm sàng, chẩn đoán và xử trí”, phần ‘Viêm túi mỏm khuỷu’).
Bệnh lý thần kinh ngoại biên – Siêu âm có thể được sử dụng để phát hiện u dây thần kinh ngoại biên (ví dụ: u dây thần kinh Morton) và các hội chứng chèn ép thần kinh như hội chứng ống cổ tay, ống khuỷu tay và ống cổ chân. Hình ảnh siêu âm mặt cắt dọc của dây thần kinh ngoại biên bình thường gồm các dải giảm âm dạng đường song song trên nền tăng hồi âm. Trên mặt cắt ngang, hình ảnh là các vùng tròn giảm âm trên nền tăng hồi âm (Xem thêm ‘Dây thần kinh ngoại biên’ ở dưới).
Viêm màng hoạt dịch – Tín hiệu Doppler năng lượng từ màng hoạt dịch viêm có thể tương quan với mức độ nghiêm trọng của viêm màng hoạt dịch được xác định qua sinh thiết. Nếu được xác nhận, điều này cho thấy siêu âm có thể đóng vai trò trong chẩn đoán và theo dõi điều trị đích cho các thể viêm khớp mạn tính (Xem thêm ‘Viêm màng hoạt dịch’ ở dưới).