Tổng quan về giảm bạch cầu trung tính ở trẻ em và trẻ vị thành niên

TÓM TẮT

Định nghĩa – Số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối (ANC) (máy tính 1) bằng tích của tổng số lượng bạch cầu (WBC) và tỷ lệ phần trăm của các tế bào đa nhân (PMN) và dạng bạch cầu đũa (band forms) trong công thức bạch cầu:

$$\text{ANC} = \text{WBC (tế bào/microL)} \times \frac{\text{phần trăm (PMN + band)}}{100}$$

Giảm bạch cầu trung tính – Phạm vi bình thường của ANC thay đổi đôi chút theo độ tuổi (bảng 3) và giữa các quần thể người. (Xem mục ‘Định nghĩa và các giá trị bình thường’ ở dưới.)

Giảm bạch cầu trung tính được định nghĩa là ANC <1500/microL ở hầu hết các quần thể. Tuy nhiên, những người gốc Phi và một số nhóm dân cư khác có thể có chỉ số ANC <1500/microL mà không hề mắc các bệnh nhiễm trùng tái phát hoặc nghiêm trọng. Một nguyên nhân phổ biến của biến thể bình thường này được gọi là “Số lượng bạch cầu trung tính liên quan đến kiểu hình Duffy-null” (DANC; trước đây được gọi là giảm bạch cầu trung tính lành tính theo dân tộc hoặc giảm bạch cầu trung tính cơ địa), có liên quan đến đa hình đồng hợp tử của kháng nguyên hồng cầu Duffy. (Xem mục ‘Các biến thể bình thường’ ở dưới.)

Tổng quan – Xét nghiệm công thức bạch cầu trong máu ngoại vi chỉ lấy mẫu từ ngăn chứa bạch cầu trung tính nhỏ nhất và không phản ánh chính xác khả năng của cơ thể trong việc đưa bạch cầu trung tính đến mô để bảo vệ chống lại nhiễm trùng do vi khuẩn. Việc kiểm tra tủy xương, nơi chứa phần lớn bạch cầu trung tính của cơ thể, có thể xác định điều này một cách hiệu quả nhất. (Xem mục ‘Khuynh hướng nhiễm trùng và ý nghĩa của giảm bạch cầu trung tính’ ở dưới.)

Nguyên nhân – Giảm bạch cầu trung tính có thể là mắc phải hoặc bẩm sinh (bảng 6). Nhiễm trùng, thuốc và các rối loạn miễn dịch là những nguyên nhân mắc phải phổ biến nhất, trong khi các nguyên nhân bẩm sinh rất hiếm gặp và chủ yếu chỉ giới hạn ở trẻ sơ sinh và trẻ em. Mức độ nguy hiểm đối với bệnh nhân phụ thuộc vào nguyên nhân, trạng thái dự trữ của tủy xương (bảng 5) và chỉ số ANC (bảng 2). (Xem mục ‘Phân loại và nguyên nhân của giảm bạch cầu trung tính đơn độc’‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

Chẩn đoán và quản lý – Cách tiếp cận đối với bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính đơn độc được trình bày trong lưu đồ (lưu đồ 1). Quản lý bệnh phụ thuộc vào nguyên nhân gây giảm bạch cầu trung tính và bao gồm việc phòng ngừa nhiễm trùng, chăm sóc răng miệng thường xuyên, sử dụng nước súc miệng kháng khuẩn, điều trị kháng sinh tích cực khi có sốt, và sử dụng các yếu tố tăng trưởng dòng tủy một cách thận trọng ở những bệnh nhân được chọn lọc có suy giảm dự trữ tủy xương. (Xem mục ‘Tiếp cận chẩn đoán’‘Các khía cạnh điều trị chung’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here