TÓM TẮT
Dịch tễ học và cơ chế chấn thương – Gãy cổ xương bàn tay là tổn thương thường gặp, thường do một lực tác động trực tiếp vào bàn tay hoặc do dùng nắm đấm đập mạnh vào vật cứng. Trong đó, gãy cổ xương bàn ngón năm (ngón út), hay còn gọi là “gãy xương võ sĩ”, là phổ biến nhất. (Xem thêm mục Dịch tễ học và Cơ chế chấn thương ở dưới.)
Biểu hiện lâm sàng và thăm khám – Bệnh nhân thường nhập viện sau chấn thương bàn tay với các triệu chứng đau và/hoặc biến dạng vùng mu bàn tay tương ứng với vị trí xương bàn bị tổn thương. Mu bàn tay sưng nề và có điểm đau khu trú tại vị trí gãy. Nếu xuất hiện tình trạng đau nhiều hoặc xuất huyết dưới da ở mặt lòng bàn tay, khả năng cao là có gãy xương. (Xem thêm mục Biểu hiện lâm sàng và kết quả thăm khám ở dưới.)
Cần thăm khám kỹ bàn tay để tìm các dấu hiệu gập góc, xoay, lệch trục, cũng như đánh giá tình trạng suy giảm chức năng duỗi các ngón tay và tổn thương toàn vẹn da. Gãy cổ xương bàn hầu hết đều gây gập góc đỉnh gãy về phía mu tay, thường làm mất đi đường cong tự nhiên của khớp bàn ngón. Việc đánh giá mức độ gập góc (qua X-quang quy ước) và xoay trục (qua thăm khám lâm sàng) được mô tả chi tiết trong bài. (Xem thêm mục Giải phẫu lâm sàng, Biểu hiện lâm sàng và kết quả thăm khám và Chẩn đoán hình ảnh ở dưới.)
Chẩn đoán hình ảnh và chẩn đoán – Chẩn đoán xác định được thực hiện bằng X-quang quy ước; các bác sĩ có kinh nghiệm có thể sử dụng siêu âm để chẩn đoán sơ bộ. Hình ảnh học giúp phân biệt dễ dàng gãy xương với hai chẩn đoán phân biệt thường gặp là dập bàn tay và trật khớp bàn ngón. (Xem thêm mục Chẩn đoán hình ảnh, Chẩn đoán và Chẩn đoán phân biệt ở dưới.)
Chỉ định chuyển chuyên khoa ngoại – Các chỉ định chính để chuyển bệnh nhân đến phẫu thuật viên bàn tay bao gồm:
- Gãy hở (vết rách da lan đến xương) và các tổn thương kèm theo suy giảm thần kinh mạch máu nghiêm trọng. Những trường hợp này ít gặp nhưng cần hội chẩn ngoại khoa ngay lập tức.
- Gãy phức tạp không thể điều trị bảo tồn, chẳng hạn như gãy nhiều mảnh nghiêm trọng hoặc gãy có thành phần xoay trục.
- Gãy xương có mức độ gập góc lớn. (Xem thêm mục Chỉ định chuyển phẫu thuật ở dưới.)
Mức độ gập góc chấp nhận được và chỉ định nắn chỉnh – Gãy cổ xương bàn ngón hai (ngón trỏ) và ngón ba (ngón giữa) không chấp nhận mức độ gập góc lớn. Gập góc >10 độ ở xương bàn ngón hai và >20 độ ở xương bàn ngón ba là chỉ định cần nắn chỉnh hoặc chuyển chuyên khoa. Mức độ gập góc được xác định trên phim X-quang nghiêng và phải tính đến góc tự nhiên giữa chỏm và cổ xương bàn là 15 độ. (Xem thêm mục Chỉ định chuyển phẫu thuật và Chẩn đoán hình ảnh ở dưới.)
Gãy cổ xương bàn ngón bốn và ngón năm chấp nhận mức gập góc lớn hơn (lên đến 30 độ). Đa số các trường hợp này vẫn đạt kết quả chức năng tốt dù có gập góc đáng kể. Phương pháp nắn chỉnh ưu tiên của chúng tôi được mô tả trong bài. (Xem thêm mục Nắn kín ở dưới.)
Hiện tượng vuốt giả (quá duỗi khớp bàn ngón [MCP] và gấp khớp liên đốt gần [PIP] khi cố gắng duỗi ngón tay) là chỉ định bắt buộc phải nắn chỉnh hoặc chuyển chuyên khoa. (Xem thêm mục Bộ máy duỗi ở dưới.)
Xử trí vết rách tại vị trí gãy – Các vết rách tại vùng chấn thương (“vết cắn khi đánh nhau”) thường gặp và dễ dẫn đến nhiễm trùng. Bất kỳ dấu hiệu rách da hoặc mất toàn vẹn da nào cũng cần được làm sạch và khử nhiễm tích cực để tránh nhiễm trùng nội khớp nghiêm trọng. Kháng sinh dự phòng cho thấy có lợi trong các trường hợp bị người cắn vào tay. (Xem thêm mục Độ toàn vẹn của da và “Vết cắn của người: Đánh giá và quản lý”, phần ‘Quản lý’.)
Bất động xương gãy và theo dõi – Ngoài các chăm sóc tiêu chuẩn, xử trí ban đầu thường bao gồm bất động bằng nẹp máng trụ đối với gãy cổ xương bàn ngón bốn và năm, hoặc nẹp phía quay đối với gãy cổ xương bàn ngón hai và ba. Sử dụng nẹp chức năng (loại tùy chỉnh hoặc sản xuất sẵn) mang lại hiệu quả và thường được dùng trong điều trị xác định. Việc theo dõi và chỉ định hình ảnh học thay đổi tùy theo loại gãy xương và được mô tả chi tiết trong bài. (Xem thêm mục Chăm sóc theo dõi ở dưới.)