Bệnh huyết thanh và các phản ứng giống bệnh huyết thanh

TÓM TẮT

Thuật ngữ và sinh lý bệnh

  • Bệnh huyết thanh (Serum sickness) – Bệnh huyết thanh điển hình là hội chứng lâm sàng xảy ra khi các protein huyết thanh ngoại lai (dị chủng, không phải của người) được nhận diện bởi các globulin miễn dịch của vật chủ (người), dẫn đến hình thành các phức hợp miễn dịch. Nếu các phức hợp này không được hệ thống thực bào đơn nhân loại bỏ hiệu quả, chúng sẽ lắng đọng tại các mô, kích hoạt bổ thể và khởi phát phản ứng viêm. Đây là bệnh lý quá mẫn trung gian phức hợp miễn dịch hoặc quá mẫn “loại III” theo phân loại của Gell và Coombs (bảng 1). (Xem thêm mục ‘Thuật ngữ’‘Bệnh huyết thanh’ ở dưới).
  • Phản ứng giống bệnh huyết thanh (Serum sickness-like reactions – SSLRs) – Các phản ứng giống bệnh huyết thanh thường có biểu hiện tương tự nhưng mức độ nhẹ hơn bệnh huyết thanh điển hình và cơ chế sinh lý bệnh chưa được làm rõ chi tiết. (Xem thêm mục ‘Thuật ngữ’‘Phản ứng giống bệnh huyết thanh’ ở dưới).

Nguyên nhân

Bệnh huyết thanh có thể do nhiều loại protein ngoại lai gây ra, bao gồm globulin kháng tế bào T nguồn gốc ngựa (ATG), các kháng thể đơn dòng và kháng thể chimeric như rituximab và infliximab, thậm chí cả các kháng thể đơn dòng người hóa hoàn toàn như omalizumab (bảng 2). Ngược lại, SSLRs thường gặp nhất là do các kháng sinh như penicillin, cefaclor, amoxicillin và trimethoprim-sulfamethoxazole, cũng như các loại vaccine, mặc dù một số thuốc khác cũng có liên quan nhưng ít phổ biến hơn (bảng 3). (Xem thêm mục ‘Nguyên nhân và dịch tễ học’ ở dưới).

Biểu hiện lâm sàng

  • Bệnh huyết thanh – Biểu hiện phổ biến nhất là phát ban, sốt, mệt mỏi, đau nhiều khớp hoặc viêm đa khớp, xuất hiện từ một đến hai tuần sau lần đầu tiếp xúc với tác nhân gây bệnh và thuyên giảm trong vòng vài tuần sau khi ngưng thuốc. Ở những bệnh nhân đã từng tiếp xúc với tác nhân này trước đó, hội chứng sẽ khởi phát sớm hơn (trong vòng 1 đến 7 ngày) với diễn tiến cấp tính và mức độ nặng hơn. Phát ban dạng mày hoặc sởi, gây ngứa, với các tổn thương đơn lẻ kéo dài từ vài ngày đến vài tuần. Các tổn thương đầu tiên thường xuất hiện tại vị trí tiêm. Niêm mạc không có tổn thương. Kết quả xét nghiệm thay đổi tùy trường hợp. (Xem thêm mục ‘Bệnh huyết thanh’ ở dưới).
  • SSLRs – Biểu hiện bao gồm đau khớp, sưng hạch bạch huyết và phát ban dạng mày, có hoặc không kèm sốt nhẹ, thường bắt đầu từ 5 đến 10 ngày sau khi dùng thuốc đường uống. Các tổn thương dạng mày trong SSLRs thường bắt đầu ở các vùng nếp gấp rồi lan rộng ra toàn thân. Các tổn thương đơn lẻ kéo dài hơn 24 giờ và có thể để lại các vết xuất huyết purpura mờ, thường thấy rõ nhất ở vùng bụng. (Xem thêm mục ‘Phản ứng giống bệnh huyết thanh’ ở dưới).

Chẩn đoán – Chẩn đoán bệnh huyết thanh và SSLRs dựa trên lâm sàng, căn cứ vào đặc điểm của các dấu hiệu thực thể và xét nghiệm xuất hiện sau khi tiếp xúc với một tác nhân nghi ngờ. (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán’ ở dưới).

Chẩn đoán phân biệt – Chẩn đoán phân biệt của bệnh huyết thanh và SSLRs rất rộng, bao gồm các nhiễm trùng virus cấp tính (như viêm gan B, sốt xuất huyết Dengue, chikungunya và Zika), các hội chứng viêm mạch, hội chứng DRESS và hồng ban đa dạng, cùng một số bệnh lý khác. Ở trẻ em, cần cân nhắc thêm bệnh Kawasaki và mày đay đa dạng. (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới).

Xử trí

Nguyên tắc xử trí là ngưng tất cả các tác nhân nghi ngờ gây bệnh trong mọi trường hợp. Thông thường, tình trạng sốt và đau khớp sẽ thuyên giảm, các tổn thương da mới ngừng xuất hiện trong vòng 48 giờ sau khi can thiệp. Đối với bệnh nhân có triệu chứng nhẹ, đây thường là biện pháp duy nhất cần thiết. Các điều trị bổ sung tùy thuộc vào mức độ khó chịu của từng bệnh nhân. (Xem thêm mục ‘Ngưng tác nhân gây bệnh’ ở dưới).

  • Mức độ nhẹ đến trung bình – Thuốc kháng histamine có thể giúp giảm ngứa. Thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) và thuốc giảm đau có thể được chỉ định cho trường hợp sốt nhẹ và đau khớp. (Xem thêm mục ‘Triệu chứng nhẹ đến trung bình’ ở dưới).
  • Mức độ nặng – Đối với bệnh nhân sốt cao (ví dụ: nhiệt độ >38,5°C), viêm khớp và đau khớp nặng, hoặc phát ban lan rộng, chúng tôi đề xuất dùng glucocorticoid ngắn ngày (Khuyến cáo 2C). Thuốc thường được dùng đường uống (ví dụ: prednisone liều 0,5 đến 1 mg/kg/ngày), tuy nhiên có thể cân nhắc dùng đường tĩnh mạch (methylprednisolone liều 1 đến 2 mg/kg/ngày, chia một hoặc hai lần) cho những bệnh nhân có tình trạng bệnh cấp tính. Liệu trình này thường được giảm liều dần trong vòng một tuần. (Xem thêm mục ‘Triệu chứng nặng’ ở dưới).

Trường hợp đặc biệt – Nếu bắt buộc phải điều trị lại hoặc tiếp tục điều trị vì thuốc gây bệnh là thuốc cứu mạng và không có thuốc thay thế tương đương, có thể áp dụng phương pháp truyền thuốc chậm với liều tăng dần kết hợp với dùng glucocorticoid đồng thời. Quá trình này cần có sự giám sát của chuyên gia dị ứng thuốc. (Xem thêm mục ‘Trường hợp đặc biệt’ ở dưới).

Phòng ngừa tái phát – Khi đã xuất hiện bệnh huyết thanh hoặc SSLRs, nên tránh dùng thuốc gây bệnh trong tương lai nếu có thể. Các phản ứng tái phát có thể nặng hơn và khởi phát nhanh hơn. Hiện chưa rõ liệu có cần phải tránh các thuốc cùng nhóm hay không, tuy nhiên đây là phương pháp an toàn nhất nếu có các thuốc thay thế khác có thể sử dụng. (Xem thêm mục ‘Phòng ngừa tái phát’ ở dưới).

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here