TÓM TẮT
Phân loại – Ngôi mông có thể là ngôi mông đơn thuần (frank breech), ngôi mông hoàn toàn (complete breech) hoặc ngôi mông không hoàn toàn (incomplete breech) (hình 1, hình 2 và hình 3). (Xem thêm mục ‘Phân loại ngôi mông’ ở dưới.)
Tỷ lệ gặp – Ngôi mông gặp trong khoảng 3% đến 4% các thai kỳ đủ tháng; tỷ lệ này tỷ lệ nghịch với tuổi thai. (Xem thêm mục ‘Tỷ lệ gặp’ ở dưới.)
Cơ chế bệnh sinh – Trong hầu hết các trường hợp, ngôi mông xảy ra ngẫu nhiên. Có tới 15% trường hợp có thể liên quan đến các bất thường về thai nhi, người mẹ hoặc bánh nhau. (Xem thêm mục ‘Cơ chế bệnh sinh’ ở dưới.)
Triệu chứng – Triệu chứng của ngôi mông bao gồm cảm giác khó chịu vùng dưới sườn do đầu thai nhi nằm ở đáy tử cung, và cảm giác thai máy ở vùng bụng dưới trong trường hợp ngôi mông hoàn toàn hoặc không hoàn toàn. (Xem thêm mục ‘Triệu chứng’ ở dưới.)
Chẩn đoán – Chẩn đoán ngôi mông dựa trên việc xác định mông và/hoặc chân là phần trình diện thông qua thăm khám lâm sàng (qua thành bụng hoặc qua âm đạo) hoặc siêu âm. (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán’, ‘Khám lâm sàng’ và ‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)
Quản lý
Tổng quan – Việc quản lý ngôi mông ở thai đủ tháng dựa trên giá trị, nguyện vọng của bệnh nhân cũng như kinh nghiệm và quan điểm của người điều trị, sau khi đã xem xét các bằng chứng về rủi ro và lợi ích của các can thiệp hiện có. (Xem thêm mục ‘Tiếp cận quản lý khi thai đủ tháng hoặc gần đủ tháng (thai đơn)’ ở dưới.)
Việc lựa chọn đường sinh cần cân nhắc kỹ lưỡng môi trường chăm sóc sức khỏe cụ thể, giá trị và nguyện vọng cá nhân của bệnh nhân, cũng như những hạn chế vốn có của các bằng chứng hiện tại. Chỉ định mổ lấy thai chủ động có thể không phù hợp về chi phí hoặc không khả thi ở những nơi hạn chế về nguồn lực. Tùy vào từng trường hợp cụ thể, có những tình huống lâm sàng mà rủi ro của phẫu thuật lấy thai đối với người mẹ, hoặc mong muốn tránh phẫu thuật của bệnh nhân, có thể lớn hơn những rủi ro ngắn hạn cho trẻ sơ sinh khi sinh ngả âm đạo. Cả hai đường sinh đều mang lại kết cục dài hạn tương tự cho mẹ và trẻ; một số dữ liệu cho thấy sinh ngả âm đạo đem lại một số lợi ích sức khỏe dài hạn. Ngoài ra, mổ lấy thai còn ảnh hưởng đến các thai kỳ tiếp theo, bao gồm việc phải mổ lấy thai lần sau và tăng nguy cơ rau cài nhau hoặc vỡ tử cung. (Xem thêm mục ‘Tiếp cận quản lý khi thai đủ tháng hoặc gần đủ tháng (thai đơn)’ ở dưới.)
- Vai trò của xoay ngôi ngoài – Tại Hoa Kỳ, các bác sĩ lâm sàng ưu tiên đề xuất xoay ngôi ngoài (ECV) khi thai đủ tháng hoặc gần đủ tháng. Nếu xoay ngôi thành công, bệnh nhân sẽ được thử sinh ngả âm đạo; nếu vẫn là ngôi mông, sẽ tiến hành mổ lấy thai chủ động vì phương pháp này giúp giảm tỷ lệ tử vong chu sinh hoặc bệnh tật nghiêm trọng. (Xem thêm mục ‘Chiến lược #1: Xoay ngôi ngoài, mổ lấy thai nếu không thành công’ ở dưới.)
- Vai trò của mổ lấy thai chủ động – Một số bệnh nhân có thể chọn mổ lấy thai chủ động mà không cần thử xoay ngôi ngoài. Những bệnh nhân có khả năng xoay ngôi thành công thấp hoặc có nguy cơ cao gây hại cho thai nhi trong quá trình thực hiện có thể cân nhắc bỏ qua thủ thuật này. (Xem thêm mục ‘Chiến lược #3: Mổ lấy thai không qua xoay ngôi ngoài’ ở dưới.)
- Vai trò của sinh ngôi mông ngả âm đạo – Một số bệnh nhân có thể chọn sinh ngôi mông ngả âm đạo. Có sự đồng thuận chung rằng những bệnh nhân này phải có nguy cơ thấp gặp biến chứng khi sinh ngôi mông ngả âm đạo, và quá trình chuyển dạ, sinh con phải được giám sát bởi bác sĩ có kinh nghiệm trong xử trí sinh ngôi mông ngả âm đạo. (Xem thêm mục ‘Chiến lược #2: Xoay ngôi ngoài, thử sinh ngả âm đạo cho bệnh nhân được chọn lọc nếu không thành công’ ở dưới.)