Nhịp nhanh vào lại nhĩ thất (AVRT)
Sự hiện diện của một đường dẫn truyền phụ có thể dẫn đến một thể nhịp nhanh trên thất (SVT) được gọi là AVRT. (Xem “Nhịp nhanh vào lại nhĩ thất (AVRT) liên quan đến đường dẫn truyền phụ” và “Hướng dẫn ECG: Rối loạn nhịp nhĩ và nút nhĩ thất (nhịp nhanh trên thất)”.)
Vòng vào lại bao gồm đường dẫn truyền phụ, nút nhĩ thất (AV) và hệ His-Purkinje, được kết nối ở đầu gần trong cơ nhĩ và đầu xa trong cơ thất. (Xem “Hiện tượng vào lại và sự hình thành loạn nhịp tim”.)
Thông thường, phức bộ QRS trong AVRT có dạng hẹp, được gọi là AVRT thuận dòng (hình 1, dạng sóng 4 và dạng sóng 5). Tình trạng này xảy ra khi dẫn truyền xuôi dòng từ nhĩ xuống thất đi qua hệ thống dẫn truyền bình thường, trong khi dẫn truyền ngược dòng từ thất lên nhĩ đi qua đường dẫn truyền phụ.
Ngược lại, trong AVRT nghịch dòng, phức bộ QRS trong nhịp nhanh trên thất có dạng rộng, hình dạng bất thường và thường bị nhầm lẫn với nhịp nhanh thất. Dẫn truyền xuôi dòng từ nhĩ xuống thất đi qua đường dẫn truyền phụ và dẫn truyền ngược dòng từ thất lên nhĩ đi qua hệ His-Purkinje và nút nhĩ thất bình thường (hình 2, dạng sóng 6 và dạng sóng 7). Trong một số ít trường hợp, nếu có từ hai đường dẫn truyền phụ trở lên, nhánh ngược dòng có thể là một đường dẫn truyền phụ thứ hai.
Rung nhĩ hoặc cuồng nhĩ
Nguy cơ rung nhĩ hoặc cuồng nhĩ tăng cao ở những bệnh nhân có hội chứng WPW (dạng sóng 8A-C). (Xem “Nhịp nhanh vào lại nhĩ thất (AVRT) liên quan đến đường dẫn truyền phụ”.)
Hình thái phức bộ QRS thường thay đổi, tùy thuộc vào tỷ lệ dẫn truyền qua nút nhĩ thất và qua đường dẫn truyền phụ. Phức bộ QRS sẽ hẹp hơn nếu thời kỳ trơ của đường dẫn truyền phụ tương đối dài và dẫn truyền xuôi dòng xuống thất đi qua nút nhĩ thất. Tuy nhiên, nếu thời kỳ trơ của đường dẫn truyền phụ ngắn, dẫn truyền xuôi dòng xuống thất chủ yếu đi qua đường dẫn truyền phụ (bỏ qua nút nhĩ thất), khiến phức bộ QRS rộng và có hình dạng bất thường. Có khả năng tần số thất sẽ rất nhanh (>300 chu kỳ/phút) do dẫn truyền 1:1 từ nhĩ xuống thất và có thể thoái triển thành rung thất.
TÓM TẮT
- Lown-Ganong-Levine – Hội chứng Lown-Ganong-Levine (LGL) được định nghĩa bởi khoảng PR ngắn với phức bộ QRS bình thường. (Xem ‘Hội chứng Lown-ganong-levine’ ở dưới.)
- Dạng Wolff-Parkinson-White – Dạng Wolff-Parkinson-White (WPW) được định nghĩa bởi khoảng PR ngắn, phức bộ QRS rộng và có sóng delta. Khi xuất hiện các rối loạn nhịp như nhịp nhanh vào lại nhĩ thất (AVRT) hoặc rung nhĩ/cuồng nhĩ, tình trạng này được gọi là hội chứng WPW. (Xem ‘Hội chứng Wolff-parkinson-white’ ở dưới.)