TÓM TẮT
- Độ chính xác của các dự đoán thời gian sống còn – Những dự đoán về thời gian sống còn mà lâm sàng viên đưa ra, nếu chỉ dựa trên trực giác và kinh nghiệm lâm sàng, thường không chính xác và sai số hầu hết luôn theo hướng lạc quan quá mức.
- Trao đổi về dự đoán thời gian sống còn – Mặc dù các bác sĩ ung thư báo cáo rằng họ thường xuyên thông báo cho bệnh nhân giai đoạn cuối về việc họ sẽ tử vong, nhưng nhiều người lại không thường xuyên trao đổi cụ thể về thời gian sống còn dự kiến. Tuy nhiên, hầu hết bệnh nhân đều mong muốn và kỳ vọng sự trao đổi cởi mở, trung thực từ bác sĩ về tiên lượng bệnh của mình.
- Cải thiện độ chính xác trong tiên lượng
Tiên lượng trong ung thư giai đoạn cuối là một nhiệm vụ khó khăn nhưng cực kỳ quan trọng, và sẽ trở nên dễ dàng hơn khi các nhà nghiên cứu phát triển được những công cụ dự đoán lâm sàng hiệu quả hơn. Lý tưởng nhất, những nỗ lực này sẽ khắc phục tình trạng lạc quan quá mức một cách hệ thống trong các tiên lượng mà lâm sàng viên ước tính và trao đổi với bệnh nhân. (Xem ‘Độ chính xác của các dự đoán thời gian sống còn’ và ‘Trao đổi về dự đoán thời gian sống còn và nhận thức về tiên lượng’ ở dưới.)
Để cải thiện độ chính xác, các nhà nghiên cứu đang tích hợp các yếu tố tiên lượng đã được thiết lập trước đó vào các mô hình dễ sử dụng, giúp lâm sàng viên áp dụng trong chăm sóc bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối. Mục tiêu của việc cải thiện tiên lượng là giúp bệnh nhân hiểu rõ hơn về thời gian sống còn dự kiến, từ đó cho phép họ đưa ra các lựa chọn y tế và xã hội sáng suốt về lộ trình điều trị cuối đời, dù là điều trị kéo dài sự sống hay điều trị giảm nhẹ. (Xem ‘Cải thiện độ chính xác trong tiên lượng’ ở dưới.)
Việc kết hợp dự đoán của lâm sàng viên với các yếu tố dự báo như trạng thái hoạt động (performance status) và các dấu hiệu/triệu chứng lâm sàng (ví dụ: trong Chỉ số Tiên lượng Chăm sóc Giảm nhẹ [PPI] (bảng 5)) hiện là phương pháp tốt nhất để dự đoán thời gian sống còn ở những bệnh nhân chỉ nhận chăm sóc giảm nhẹ. Đối với những bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối không điều trị, việc sử dụng các dự đoán sống còn đặc hiệu cho từng loại bệnh (được rút ra từ các nghiên cứu mà bệnh nhân chỉ nhận chăm sóc giảm nhẹ (bảng 6)) có thể cải thiện độ chính xác của dự đoán. (Xem ‘Tiên lượng ở bệnh nhân chỉ nhận chăm sóc giảm nhẹ’ ở dưới.)
Hầu hết các chỉ số tiên lượng hiện nay tập trung vào bệnh nhân nhận chăm sóc giảm nhẹ; các chỉ số dành cho bệnh nhân ung thư giai đoạn tiến triển đang điều trị đặc hiệu ít phổ biến hơn và hiện chưa có công cụ cụ thể nào được khuyến cáo. Hơn nữa, có rất ít bằng chứng cho thấy trải nghiệm sống còn của những bệnh nhân chọn phương pháp thuần giảm nhẹ có sự khác biệt so với những bệnh nhân chọn tiếp tục điều trị chống ung thư.
Việc tiên lượng chính xác càng trở nên phức tạp hơn do trong cùng một loại và giai đoạn ung thư, tiên lượng có thể thay đổi đáng kể tùy thuộc vào các đặc điểm phân tử. Trong khi một số bệnh nhân đáp ứng bền vững đặc biệt với liệu pháp điều trị hướng kiểu gen, những bệnh nhân khác lại không đáp ứng hoặc chỉ có lợi ích ngắn hạn. Trong kỷ nguyên điều trị ung thư hướng đặc điểm phân tử, cách tốt nhất để trao đổi về tiên lượng trên phổ đáp ứng rộng này hiện vẫn chưa rõ ràng. (Xem ‘Tiên lượng ở bệnh nhân tiếp tục điều trị chống ung thư’ ở dưới.)
Bất chấp những vấn đề nêu trên đối với hầu hết bệnh nhân, có rất ít bằng chứng cho thấy điều trị giúp cải thiện thời gian sống còn trong giai đoạn cuối của ung thư. Một loạt các yếu tố lâm sàng liên quan đến thời gian sống còn trung bình từ 6 tháng trở xuống ở nhiều loại khối u khác nhau, bất kể phương pháp điều trị, được trình bày trong bảng (bảng 4). (Xem ‘Các mô hình tiên lượng tích hợp’ ở dưới.)