TÓM TẮT
Định nghĩa và nguyên nhân gây co giật và động kinh
- Cơn co giật triệu chứng cấp tính – Là cơn co giật xảy ra trong bối cảnh bệnh lý nội khoa cấp tính (ví dụ: hạ đường huyết, hạ natri máu) hoặc bệnh lý/tổn thương thần kinh cấp tính (ví dụ: đột quỵ, chấn thương sọ não, viêm màng não, bệnh não thiếu oxy). Những cơn co giật này có thể tái phát trong đợt bệnh cấp, nhưng nhìn chung có nguy cơ tiến triển thành động kinh thấp hơn so với các cơn co giật không do tác nhân. (Xem thêm ‘Cơn co giật triệu chứng cấp tính (có tác nhân)’, ‘Tổn thương não cấp tính’ và ‘Rối loạn hệ thống cấp tính’ ở dưới.)
- Cơn co giật không do tác nhân – Là cơn co giật không rõ nguyên nhân hoặc xảy ra liên quan đến một tổn thương não sẵn có hoặc bệnh lý hệ thần kinh tiến triển. Khoảng một phần ba người trưởng thành có cơn co giật không do tác nhân lần đầu sẽ bị tái phát (tức là động kinh) trong vòng 5 năm tiếp theo. (Xem thêm ‘Cơn co giật không do tác nhân’ và ‘Tổn thương hoặc rối loạn não tiềm ẩn và nguyên nhân gây động kinh’ ở dưới.)
- Động kinh – Động kinh là tình trạng có xu hướng tái phát các cơn co giật không do tác nhân. (Xem thêm ‘Động kinh’ ở dưới.)
- Phân loại cơn co giật – Cơn co giật được phân loại thành cơn cục bộ hoặc cơn toàn thể tùy thuộc vào việc khởi phát hoạt động điện diễn ra tại một vùng khu trú trong não hay toàn bộ vỏ não cùng một lúc. Biểu hiện lâm sàng thay đổi tùy theo vị trí khởi phát trong não và diện tích vỏ não bị ảnh hưởng. (Xem thêm ‘Phân loại cơn co giật’ ở dưới.)
Đánh giá chẩn đoán – Chẩn đoán co giật chủ yếu dựa trên lâm sàng thông qua khai thác bệnh sử, thăm khám thực thể, khám thần kinh và một số xét nghiệm bổ trợ để xác định nguyên nhân tiềm ẩn (xem ‘Thiết lập chẩn đoán’ ở dưới):
- Mục tiêu – Mục tiêu chính của quá trình đánh giá là xác định xem sự kiện đó có phải là cơn co giật hay không; nếu đúng, liệu nó có phải là kết quả của một quá trình rối loạn hệ thống có thể điều chỉnh được hay không và bệnh nhân có nguy cơ phát triển các cơn co giật không do tác nhân trong tương lai (động kinh) hay không. (Xem thêm ‘Mục tiêu’, ‘Nguyên nhân gây co giật’ và ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)
- Hỏi bệnh và thăm khám – Cần thu thập mô tả chi tiết về cơn co giật từ bệnh nhân và người chứng kiến, bao gồm các tình huống dẫn đến cơn, các yếu tố khởi phát tiềm tàng, hành vi trong cơn (bảng 4 và bảng 6) và sau cơn (bảng 5). Không nên bỏ qua các sự kiện kín đáo trước đó (ví dụ: các cơn thẫn thờ, giật cơ hoặc tiền triệu). (Xem thêm ‘Mô tả sự kiện’, ‘Giai đoạn sau cơn’, ‘Yếu tố khởi phát hoặc kích thích cơn co giật’ và ‘Các sự kiện trước đó’ ở dưới.)
Tiền sử bệnh lý và tiền sử gia đình cần được khai thác kỹ để tìm các yếu tố nguy cơ gây co giật. Thăm khám cần đánh giá các tổn thương liên quan đến cơn co giật (ví dụ: cắn lưỡi bên cạnh, trật khớp vai) và các bất thường thần kinh khu trú. (Xem thêm ‘Tiền sử bệnh lý’, ‘Tiền sử gia đình’ và ‘Thăm khám’ ở dưới.)
- Cận lâm sàng – Các xét nghiệm nên bao gồm:
- Xét nghiệm phòng thí nghiệm như đã liệt kê ở trên (xem ‘Xét nghiệm máu và nước tiểu’ ở dưới)
- Điện tâm đồ (xem ‘Điện tâm đồ’ ở dưới)
- Điện não đồ (EEG), chỉ định khẩn cấp khi tình trạng suy giảm ý thức kéo dài (xem ‘Điện não đồ’ ở dưới)
- Chẩn đoán hình ảnh thần kinh (xem ‘Chẩn đoán hình ảnh thần kinh’ ở dưới)
Tùy vào tình huống lâm sàng, chọc dò thắt lưng cũng có thể được chỉ định. (Xem ‘Chọc dò thắt lưng’ ở dưới.)
Do độ nhạy tương đối thấp so với MRI, CT thường chỉ được hạn chế sử dụng trong môi trường cấp cứu để đánh giá các cơn co giật triệu chứng cấp tính. (Xem ‘Chụp cắt lớp vi tính’ ở dưới.)
Hầu hết tất cả bệnh nhân khởi phát cơn co giật mới hoặc động kinh nên được chụp MRI theo phác đồ động kinh để xác định nguyên nhân cấu trúc tiềm tàng. (Xem ‘Chụp cộng hưởng từ’ ở dưới.)
Chẩn đoán phân biệt – Ngoài co giật, các nguyên nhân phổ biến khác gây ra các triệu chứng thần kinh kịch phát ở người lớn bao gồm ngất, cơn thiếu máu cục bộ tạm thời (TIA), migraine và co giật chức năng (co giật không do động kinh do tâm lý) (bảng 7). (Xem thêm ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới và “Các rối loạn kịch phát không do động kinh ở thanh thiếu niên và người lớn”.)
Xử trí ban đầu – Hầu hết các cơn co giật tự hết trong vòng hai phút. Đối với bệnh nhân co giật triệu chứng cấp tính, mọi rối loạn chuyển hóa hoặc nguyên nhân nhiễm trùng tiềm ẩn cần được xác định và điều trị nhanh chóng. Đối với bệnh nhân trong trạng thái động kinh, quy trình xử trí cấp cứu được tóm tắt trong sơ đồ (sơ đồ 1) và được xem xét chi tiết trong một mục riêng. (Xem “Trạng thái động kinh co giật ở người lớn: Xử trí”.)
Thời điểm bắt đầu dùng thuốc chống co giật – Thuốc chống co giật không phải lúc nào cũng được chỉ định sau cơn co giật lần đầu, như đã tóm tắt trong các sơ đồ dành cho cơn co giật có tác nhân (sơ đồ 2) và cơn co giật không do tác nhân (sơ đồ 3). (Xem thêm ‘Khi nào bắt đầu điều trị bằng thuốc chống co giật’ ở dưới.)
Chỉ định nhập viện – Hầu hết bệnh nhân có cơn co giật không do tác nhân lần đầu, đã hồi phục về trạng thái lâm sàng cơ bản và có kết quả xét nghiệm ban đầu bình thường có thể xuất viện và theo dõi ngoại trú chặt chẽ. Nhập viện có thể cần thiết cho những bệnh nhân có cơn co giật lần đầu đi kèm trạng thái sau cơn kéo dài, hồi phục không hoàn toàn, trạng thái động kinh, hoặc có bệnh lý/tổn thương hệ thống hoặc thần kinh cần đánh giá và điều trị thêm. (Xem thêm ‘Chỉ định nhập viện’ ở dưới.)
Hạn chế lái xe và các biện pháp phòng ngừa – Tất cả bệnh nhân cần được tư vấn về các hạn chế lái xe và các biện pháp phòng ngừa co giật khác. (Xem thêm ở trên và “Hạn chế lái xe đối với người bị co giật và động kinh”.)