TÓM TẮT
Quản lý trẻ em – Việc điều trị nhiễm khuẩn do Escherichia coli sinh độc tố Shiga (STEC) nguy cơ cao (bao gồm E. coli O157:H7 và các chủng STEC không phải O157 có chứa gen mã hóa độc tố Shiga 2) tập trung vào việc giảm khả năng tiến triển thành hội chứng tan máu tăng ure huyết (HUS), thông qua việc quản lý dịch truyền cẩn thận và theo dõi sát các dấu hiệu của bệnh lý vi mạch. (Xem thêm ‘Quản lý trẻ em’ ở dưới.)
Địa điểm chăm sóc – Việc nhập viện điều trị được chỉ định trong các trường hợp sau (sơ đồ 1) (xem ‘Địa điểm chăm sóc’ ở dưới):
- Bệnh nhân có dấu hiệu mất nước (bảng 1), nôn hoặc đau bụng dữ dội.
- Bệnh nhân có kết quả xét nghiệm cho thấy giảm tiểu cầu hoặc các bằng chứng khác của bệnh lý vi mạch (rối loạn đông máu, tiêu sợi huyết và/hoặc tan máu).
- Bệnh nhân không thể được đánh giá lại kịp thời hàng ngày thông qua xét nghiệm (tổng phân tích tế bào máu, sinh hóa) và thăm khám lâm sàng.
Có thể điều trị ngoại trú đối với những bệnh nhân đủ nước, không nôn và có thể được đánh giá lại hàng ngày thông qua các xét nghiệm (tổng phân tích tế bào máu [CBC], sinh hóa) và thăm khám lâm sàng.
Quản lý dịch truyền – Các phương pháp quản lý dịch cho trẻ em nhiễm STEC bao gồm bù dịch chủ động (mở rộng thể tích dự phòng) hoặc quản lý dịch bảo tồn (mục tiêu duy trì thể tích máu bình thường bằng cách bù dịch khi có tình trạng giảm thể tích). Hiện nay phương pháp tối ưu vẫn chưa được khẳng định và một thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành.
Đối với những bệnh nhân đến các trung tâm không tham gia thử nghiệm này, phương pháp quản lý sẽ do nhân viên y tế quyết định tùy theo tình trạng lâm sàng. (Xem ‘Lựa chọn phương pháp’ ở dưới.)
Theo dõi lâm sàng và cận lâm sàng
Tiếp cận lâm sàng – Chúng tôi theo dõi các thông số lâm sàng (triệu chứng, tình trạng thể tích, cân nặng, lượng dịch vào, lượng dịch ra) và các thông số cận lâm sàng (tổng phân tích tế bào máu, điện giải và nồng độ creatinine ít nhất một lần mỗi ngày) để phát hiện sớm HUS. HUS được định nghĩa như sau: hematocrit < 30%, số lượng tiểu cầu < 150.000/microL và nồng độ creatinine huyết thanh cao hơn giới hạn trên của mức bình thường theo độ tuổi của bệnh nhân. (Xem ‘Theo dõi’ ở dưới.)
Thời điểm ngừng theo dõi – Quyết định ngừng quản lý dịch truyền theo dõi phụ thuộc vào giai đoạn bệnh, sự thay đổi số lượng tiểu cầu giữa các ngày và sự cải thiện về lâm sàng (sơ đồ 2). (Xem ‘Ngừng điều trị’ ở dưới.)
Quản lý người lớn – Phương pháp quản lý dịch truyền ở người lớn nhiễm STEC tương tự như đối với các nguyên nhân gây giảm thể tích tuần hoàn khác. (Xem “Tiếp cận bệnh nhân người lớn bị tiêu chảy cấp trong điều kiện đầy đủ nguồn lực”, “Tiếp cận bệnh nhân người lớn bị tiêu chảy cấp trong điều kiện hạn chế nguồn lực” và “Liệu pháp dịch truyền duy trì và thay thế ở người lớn”.)
Tránh các can thiệp có hại
Kháng sinh – Đối với bệnh nhân nhiễm STEC nguy cơ cao, chúng tôi khuyến cáo không điều trị bằng kháng sinh (Khuyến cáo 1B), vì các dữ liệu cho thấy có sự liên quan giữa việc dùng kháng sinh và tăng nguy cơ tiến triển thành HUS. Chúng tôi cũng không sử dụng kháng sinh theo kinh nghiệm cho bệnh nhân nghi ngờ nhiễm STEC trong khi chờ kết quả xét nghiệm vi sinh. Kháng sinh không cho thấy tác dụng làm giảm triệu chứng hoặc biến chứng của nhiễm STEC. (Xem ‘Kháng sinh’ ở dưới.)
Các thuốc khác – Chúng tôi không khuyến khích sử dụng các thuốc cầm tiêu chảy (antimotility agents), thuốc nhóm narcotic và ondansetron đường tĩnh mạch. Những thuốc này mang lại ít lợi ích nhưng có thể gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng. (Xem ‘Các thuốc khác’ ở dưới.)
Phòng ngừa
Kiểm soát nhiễm khuẩn – Bệnh nhân nhập viện nhiễm STEC cần được áp dụng các biện pháp phòng ngừa tiếp xúc để giảm thiểu lây truyền từ người sang người. (Xem ‘Trong môi trường chăm sóc sức khỏe’ ở dưới.)
Giảm nguy cơ lây truyền – Các biện pháp phòng ngừa nhiễm STEC bao gồm giảm tiếp xúc, trong đó chú trọng đến các biện pháp an toàn thực phẩm và hạn chế tiếp xúc với động vật. (Xem ‘Giảm nguy cơ lây truyền’ ở dưới.)