Điều trị viêm não tủy cơ / hội chứng mệt mỏi mạn tính

TÓM TẮT

Tiên lượng phục hồi chức năng trong ngắn hạn của hội chứng mệt mỏi mạn tính (CFS) nhìn chung là kém. Tiên lượng dài hạn có vẻ khả quan hơn, mặc dù kết quả từ các nghiên cứu còn mâu thuẫn.

Ví dụ, trong một báo cáo theo dõi 144 bệnh nhân thông qua bảng câu hỏi, tỷ lệ bệnh nhân suy giảm chức năng là 73% tại thời điểm từ 6 tuần đến 6 tháng và chỉ còn 33% sau 2 đến 4 năm 60. Tuy nhiên, các nghiên cứu khác lại ghi nhận kết cục kém hơn:

  • Một nghiên cứu tiến cứu cho thấy chỉ có 4 trong số 27 bệnh nhân đạt được trạng thái lui bệnh bền vững trong thời gian theo dõi 3 năm 22.
  • Một đánh giá hồi cứu trên 495 bệnh nhân mắc CFS hoặc mệt mỏi mạn tính vô căn (tình trạng mệt mỏi gây suy nhược không giải thích được, kéo dài trên 6 tháng nhưng không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán CFS) ghi nhận 64% có cải thiện triệu chứng sau 1,5 năm, nhưng chỉ có 2% hồi phục hoàn toàn 61.

Trong loạt nghiên cứu sau, bệnh nhân mắc CFS có mức độ nghiêm trọng của triệu chứng cao hơn và mức độ hoạt động chức năng khi theo dõi thấp hơn so với nhóm mệt mỏi mạn tính vô căn.

Bất kể tiên lượng dài hạn ra sao, cả CFS và mệt mỏi mạn tính đều không dẫn đến suy tạng. CFS không liên quan đến việc tăng tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân nhưng có thể liên quan đến tăng nguy cơ tự sát 62. (Xem thêm “Tiếp cận bệnh nhân người trưởng thành bị mệt mỏi”.)

GÓC NHÌN CỦA BỆNH NHÂN

Góc nhìn của bệnh nhân được cung cấp cho một số rối loạn chọn lọc nhằm giúp các nhà lâm sàng hiểu rõ hơn về trải nghiệm và những lo ngại của người bệnh. Những chia sẻ này có thể mang lại cái nhìn sâu sắc về giá trị và nguyện vọng của bệnh nhân mà các chủ đề khác không đề cập tới. (Xem “Góc nhìn của bệnh nhân: Viêm não tủy cơ/hội chứng mệt mỏi mạn tính”.)

TÓM TẮT VÀ KHUYẾN CÁO

Hội chứng mệt mỏi mạn tính (CFS), còn được gọi là viêm não tủy cơ/hội chứng mệt mỏi mạn tính (ME/CFS), là một bệnh lý phức tạp đặc trưng bởi tình trạng mệt mỏi kéo dài, tái phát và không rõ nguyên nhân. Có bằng chứng về những bất thường tiềm ẩn trong hệ thần kinh, hệ miễn dịch và chức năng chuyển hóa ở những bệnh nhân mắc bệnh này. (Xem phần ‘Giới thiệu’ ở dưới.)

Chiến lược quản lý nên tập trung vào hỗ trợ, điều trị các triệu chứng phổ biến và các bệnh đồng mắc như: rối loạn giấc ngủ, đau, trầm cảm và lo âu, khó khăn về trí nhớ và tập trung, chóng mặt và choáng váng. (Xem phần ‘Tiếp cận các triệu chứng/bệnh đồng mắc phổ biến’ ở dưới.)

Việc duy trì hoạt động thể chất là rất quan trọng đối với bệnh nhân CFS, vì vận động có thể cải thiện tình trạng mệt mỏi, các triệu chứng khác cũng như chức năng vận động ở một số bệnh nhân. Tuy nhiên, tập luyện có thể làm trầm trọng thêm tình trạng mệt mỏi sau gắng sức (post-exertional malaise – PEM), tức là sự xấu đi của các triệu chứng sau khi gắng sức về thể chất hoặc tinh thần. Để giảm thiểu PEM, lâm sàng và bệnh nhân cần xác định ngưỡng giới hạn vận động mà bệnh nhân có thể dung nạp được. (Xem phần ‘Vai trò của tập luyện’ ở dưới.)

Một số can thiệp về thuốc, chế độ ăn uống và hành vi đã được đánh giá trong điều trị CFS. Nhiều phương pháp được ghi nhận là không mang lại lợi ích. Tuy nhiên, hiệu quả của một số can thiệp khác vẫn chưa rõ ràng và cần được xem xét tùy theo từng trường hợp cụ thể. (Xem phần ‘Các can thiệp không có lợi ích hoặc chưa rõ lợi ích’ ở dưới.)

Tiên lượng phục hồi chức năng ngắn hạn của CFS nhìn chung là kém. Tiên lượng dài hạn có vẻ khả quan hơn, mặc dù kết quả từ các nghiên cứu còn mâu thuẫn. (Xem phần ‘Tiên lượng’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here