TÓM TẮT
-
Xác định phương pháp tiếp cận đường thở phù hợp – Ngoại trừ trường hợp không thể thực hiện do tình trạng bệnh nhân (ví dụ: kích động) hoặc do tính chất khẩn cấp của can thiệp, lâm sàng viên chuẩn bị thực hiện đặt nội khí quản trình tự nhanh (RSI) cần tiến hành đánh giá đường thở để xác định mức độ khó khi đặt nội khí quản, thông khí bóp bóng qua mặt nạ (BMV), đặt thiết bị trên thanh môn (EGD) và mở màng nhẫn giáp. Cần xem xét cả các rối loạn sinh lý (ví dụ: thiếu oxy, toan chuyển hóa, huyết động không ổn định) khi đưa ra quyết định quản lý đường thở (bảng 6 và bảng 7). (Xem thêm mục ‘Xác định phương pháp tiếp cận quản lý đường thở phù hợp’ ở dưới.)
-
Tầm quan trọng của việc lập kế hoạch – Việc không nhận diện và lập kế hoạch cho một ca đặt nội khí quản khó là nguyên nhân chính dẫn đến thất bại trong quản lý đường thở và gây ra kết cục xấu cho bệnh nhân. (Xem thêm mục ‘Nhận diện đường thở khó về mặt giải phẫu’ ở dưới.)
-
Tiên lượng đường thở khó – Các đặc điểm tiên lượng khó khăn khi soi thanh quản trực tiếp và đặt nội khí quản có thể được xác định thông qua quy tắc ghi nhớ LEMON: Look (Nhìn), Evaluate (Đánh giá 3-3-2), Mallampati, Obstruction/obesity (Tắc nghẽn/béo phì), Neck mobility (Độ linh hoạt của cổ) (bảng 1). (Xem thêm mục ‘Đánh giá LEMON trong đặt nội khí quản khó’ ở dưới.)
-
Tiên lượng khó khăn khi thông khí bóp bóng qua mặt nạ – Khả năng khó thực hiện BMV có thể được tiên lượng bằng quy tắc ghi nhớ ROMAN: Radiation or restriction (Xạ trị hoặc hạn chế vận động), Obstruction/obesity/obstructive sleep apnea (Tắc nghẽn/béo phì/ngưng thở khi ngủ tắc nghẽn), Mask seal/Mallampati/male (Độ kín của mặt nạ/Mallampati/nam giới), Age over 55 (Tuổi trên 55), No teeth (Mất răng) (bảng 2). (Xem thêm mục ‘Thông khí bóp bóng qua mặt nạ khó’ ở dưới.)
-
Algorithm quản lý đường thở khó – Đường thở khó được quản lý theo algorithm đường thở khó (sơ đồ 4). Các quyết định then chốt là xác định xem người thực hiện có đang trong tình huống “buộc phải hành động” hay không và nếu không, liệu tình trạng oxy hóa của bệnh nhân có đủ hay không (tức là độ bão hòa oxy trong máu [SpO2] > 93%). (Xem thêm mục ‘Algorithm đường thở khó’ ở dưới.)
-
Huy động hỗ trợ và chuẩn bị thiết bị – Hành động đầu tiên là huy động tất cả sự hỗ trợ cần thiết về nhân lực, thiết bị và các dụng cụ đường thở.
-
Trong tình huống “buộc phải hành động” (ví dụ: tắc nghẽn đường thở sắp xảy ra) – Trong trường hợp này, chúng tôi đề nghị tiến hành dùng thuốc RSI ngay lập tức (Khuyến cáo 2C), ngay cả khi dự kiến đặt nội khí quản sẽ khó khăn. Ưu tiên sử dụng soi thanh quản có video thay vì soi thanh quản trực tiếp. (Xem thêm mục ‘Áp dụng algorithm’ ở dưới, ‘Hiệu quả của việc tăng cường sử dụng soi thanh quản có video’ ở dưới và “Tổng quan về quản lý đường thở nâng cao ở người lớn trong cấp cứu và hồi sức tích cực”, phần ‘Lựa chọn kỹ thuật soi thanh quản’.)
-
Tối ưu hóa tiền oxy hóa – Nếu người thực hiện không trong tình huống buộc phải hành động nhưng tình trạng oxy hóa không đủ, hãy cải thiện bằng cách cho thở oxy mặt nạ lưu lượng cao, thông khí BMV hoặc thông khí không xâm lấn (NIV).
-
Nếu không duy trì được SpO2 ở mức thích hợp – Trong trường hợp độ bão hòa oxy không đủ, đường thở được coi là thất bại và được quản lý tương ứng (sơ đồ 5). (Xem thêm “Tiếp cận đường thở thất bại ở người lớn trong cấp cứu và hồi sức tích cực”.)
-
Đặt nội khí quản khi bệnh nhân còn tỉnh – Ở những bệnh nhân cần quản lý đường thở nhưng dự kiến có giải phẫu đường thở khó, tiên lượng khó thông khí bằng BVM hoặc thiết bị trên thanh môn, có các rối loạn sinh lý làm tăng nguy cơ sụp đổ tim mạch trong và sau đặt nội khí quản, hoặc tiên lượng khó tiếp cận đường thở phẫu thuật cấp cứu, chúng tôi đề nghị thực hiện đặt nội khí quản khi bệnh nhân còn tỉnh thay vì RSI (Khuyến cáo 2C). Những bệnh nhân này sẽ có lợi hơn khi được tự thở và duy trì các phản xạ bảo vệ đường thở trong quá trình đặt nội khí quản. (Xem thêm mục ‘Kỹ thuật đặt nội khí quản khi bệnh nhân tỉnh’ ở dưới.)