Rối loạn chuyển hóa bẩm sinh: Dịch tễ học, cơ chế bệnh sinh và đặc điểm lâm sàng

TÓM TẮT

  • Dịch tễ học

    Các rối loạn chuyển hóa bẩm sinh (IEM) đơn lẻ là những bệnh lý hiếm gặp, hầu hết có tỷ lệ mắc dưới 1/100.000 ca sinh. Tuy nhiên, tỷ lệ mắc chung của nhóm bệnh này có thể lên đến 1/800 đến 1/2500 ca sinh (Xem thêm mục ‘Dịch tễ học’ ở dưới).

  • Cơ chế bệnh sinh

    Hầu hết các rối loạn chuyển hóa gây ra bởi sự thiếu hụt một loại enzyme đơn lẻ, làm gián đoạn một bước trong chu trình chuyển hóa. Ít gặp hơn là những biến đổi dẫn đến bất thường của nhiều enzyme, gây ảnh hưởng đến nhiều bước chuyển hóa khác nhau. Ngoài ra, các rối loạn về cofactor (đồng yếu tố) cũng có thể tác động đến nhiều enzyme cùng lúc (Xem thêm mục ‘Cơ chế bệnh sinh’ ở dưới).

    Một rối loạn chuyển hóa đơn lẻ thường do khiếm khuyết của một gene duy nhất. Tuy nhiên, một enzyme có thể được cấu tạo từ nhiều tiểu đơn vị (subunit) do các gene khác nhau mã hóa và có thể xúc tác cho nhiều phản ứng chuyển hóa; khi đó, các khiếm khuyết ở tiểu đơn vị khác nhau sẽ dẫn đến các kiểu hình lâm sàng khác nhau. Bên cạnh đó, khiếm khuyết ở các enzyme khác nhau cũng có thể biểu hiện cùng một kiểu hình lâm sàng tương tự.

  • Biểu hiện lâm sàng và yếu tố khởi phát

    Các bệnh lý chuyển hóa bẩm sinh (bảng 1) có thể khởi phát ở trẻ sơ sinh, trẻ nhũ nhi, trẻ em hoặc người lớn. Thời điểm khởi phát và mức độ nghiêm trọng của bệnh có thể chịu ảnh hưởng bởi sự thay đổi chế độ ăn, nhịn ăn, mất nước, các bệnh lý kèm theo, thuốc, vận động gắng sức, sinh con, chấn thương hoặc phẫu thuật. Các dấu hiệu và triệu chứng thay đổi tùy theo độ tuổi và loại rối loạn (Xem thêm mục ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới).

  • Biểu hiện thần kinh và tiêu hóa

    Các dấu hiệu và triệu chứng thần kinh, tiêu hóa là những biểu hiện thường gặp nhất của IEM. Biểu hiện thần kinh trong IEM bao gồm lơ mơ, hôn mê, co giật, chậm phát triển hoặc thoái triển, bệnh lý đa dây thần kinh ngoại biên, bất thường trương lực cơ, yếu cơ, thất điều và các biểu hiện tâm thần kinh. Đối với bệnh lý cơ chuyển hóa, bệnh nhân thường than phiền về tình trạng không dung nạp vận động, đau cơ hoặc chuột rút thay vì yếu cơ.

    Biểu hiện tiêu hóa của IEM bao gồm các đợt nôn tái diễn, tiêu chảy, tạng to và vàng da (Xem thêm mục ‘Thần kinh’, ‘Tiêu hóa’ ở dưới, cũng như bài “Tiếp cận các bệnh lý cơ chuyển hóa”“Cấp cứu chuyển hóa trong nghi ngờ rối loạn chuyển hóa bẩm sinh: Biểu hiện, đánh giá và xử trí”, phần ‘Biểu hiện lâm sàng’).

  • Bất thường xét nghiệm

    Các bất thường xét nghiệm trong IEM bao gồm rối loạn thăng bằng kiềm-toan (bao gồm toan lactic), tăng amoniac máu, hạ đường huyết, thiếu máu, giảm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu và bất thường chức năng gan (ví dụ: tăng bilirubin máu, tăng transaminase, rối loạn đông máu).

    Trong một số bệnh lý, các bất thường xét nghiệm chỉ xuất hiện trong giai đoạn cấp. Do đó, ví dụ, một kết quả nồng độ amoniac huyết tương bình thường ở bệnh nhân không trong tình trạng cấp cứu không giúp loại trừ một rối loạn chuyển hóa (Xem thêm mục ‘Kết quả xét nghiệm’ ở dưới và “Cấp cứu chuyển hóa trong nghi ngờ rối loạn chuyển hóa bẩm sinh: Biểu hiện, đánh giá và xử trí”, phần ‘Kết quả xét nghiệm’).

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here