Ung thư biểu mô nội mạc tử cung: Thể dịch trong và thể tế bào sáng

TÓM TẮT

Mô bệnh học – Ung thư biểu mô tuyến nội mạc tử cung dạng nội mạc là loại ung thư tử cung phổ biến nhất. Các phân thể không dạng nội mạc, bao gồm ung thư biểu mô dạng thanh dịch và tế bào sáng (hình 1hình 2), ít gặp hơn u dạng nội mạc; theo hệ thống phân giai đoạn của Liên đoàn Phụ khoa và Sản khoa Quốc tế (FIGO), những loại này cùng với u dạng nội mạc độ 3, u hỗn hợp, u không biệt hóa, u dạng trung thận và ung thư biểu mô nhầy dạng đường tiêu hóa được phân loại là các khối u “xâm lấn mạnh”. (Xem thêm phần ‘Giới thiệu’‘Phân loại’ ở dưới.)

Đặc điểm bệnh nhân – Bệnh nhân ung thư biểu mô nội mạc tử cung dạng thanh dịch và tế bào sáng có các đặc điểm khác với bệnh nhân u dạng nội mạc. Họ thường lớn tuổi hơn khi chẩn đoán, có chỉ số khối cơ thể (BMI) thấp hơn và đã sinh con. Tiền sử cá nhân ung thư vú cũng được xem là một yếu tố nguy cơ đối với ung thư biểu mô thanh dịch tử cung. (Xem thêm phần ‘Dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)

Chẩn đoán

Ung thư biểu mô nội mạc tử cung là chẩn đoán mô bệnh học dựa trên đánh giá mô học từ các mẫu sinh thiết nội mạc tử cung, nạo buồng tử cung hoặc bệnh phẩm cắt tử cung. (Xem thêm phần ‘Đánh giá chẩn đoán’ ở dưới và mục ‘Chẩn đoán’ trong “Ung thư biểu mô nội mạc tử cung: Đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán, tiên lượng và tầm soát”.)

Đối với bệnh nhân nghi ngờ hoặc đã xác định ung thư tử cung dạng thanh dịch hoặc tế bào sáng, nồng độ kháng nguyên ung thư (CA) 125 cần được định lượng trước phẫu thuật. Sự gia tăng CA 125 có liên quan đến tình trạng di căn hạch chậu, dịch rửa phúc mạc dương tính và sự hiện diện của xâm lấn mạch máu – bạch huyết; việc biết trước bệnh nhân có khả năng mắc ung thư tử cung giai đoạn tiến triển sẽ ảnh hưởng đến phương pháp phẫu thuật và quyết định việc cần có bác sĩ ung thư phụ khoa thực hiện ca mổ hay không. (Xem thêm phần ‘Vai trò của các dấu ấn ung thư’ ở dưới.)

Xử trí

Phân giai đoạn phẫu thuật – Ung thư biểu mô nội mạc tử cung dạng thanh dịch và tế bào sáng được phân giai đoạn phẫu thuật tương tự như u dạng nội mạc (bảng 1bảng 2). Tuy nhiên, do những khối u này có nguy cơ cao di căn hạch và di căn ngoài tử cung, phẫu thuật cắt mạc nối và rửa phúc mạc thường được thực hiện. Phẫu thuật giảm thể tích khối u tối ưu là một thành phần quan trọng trong điều trị ngoại khoa. (Xem thêm phần ‘Phân giai đoạn phẫu thuật’ ở dưới.)

Điều trị hỗ trợ – Ung thư biểu mô nội mạc tử cung dạng thanh dịch và tế bào sáng được coi là bệnh lý nguy cơ cao, do đó bệnh nhân nên được chỉ định hóa trị hỗ trợ. Nội dung này được thảo luận riêng tại mục “Điều trị hỗ trợ cho ung thư nội mạc tử cung nguy cơ cao”.

Tiên lượng

Một số nghiên cứu cho thấy ung thư biểu mô nội mạc tử cung dạng thanh dịch và tế bào sáng có kết cục kém hơn so với u dạng nội mạc (bảng 3), tuy nhiên bằng chứng hiện nay vẫn chưa chắc chắn. Những loại u này cũng có xu hướng lan tràn trong phúc mạc, ngoài ổ bụng và xâm lấn mạch máu – bạch huyết cao hơn. (Xem thêm phần ‘Diễn tiến tự nhiên’ ở dưới.)

Một số yếu tố phân tử như đột biến TP53 (p53abn) và sự quá biểu hiện hoặc khuếch đại HER2 (erbB-2, gen thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu mô 2) có liên quan đến tiên lượng xấu. Ngược lại, tình trạng POLE/siêu đột biến (POLEmut) có liên quan đến tiên lượng rất tốt. (Xem thêm phần ‘Các yếu tố tiên lượng’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here