Ung thư biểu mô buồng trứng, vòi trứng và phúc mạc: Giải phẫu bệnh

TÓM TẮT

Các phân thể chính – Ung thư biểu mô là loại mô bệnh học phổ biến nhất trong các khối u ác tính của buồng trứng, ống dẫn trứng và phúc mạc. Năm phân thể chính và tỷ lệ tương ứng bao gồm: ung thư biểu mô thanh dịch độ cao (HGSC; 70%); ung thư biểu mô dạng nội mạc tử cung (10%); ung thư biểu mô tế bào sáng (10%); ung thư biểu mô thanh dịch độ thấp (LGSC; <5%); và ung thư biểu mô nhầy (3%). (Xem thêm ‘Giới thiệu’‘Tổng quan’ ở dưới.)

Ung thư biểu mô thanh dịch độ cao – Đa số các trường hợp HGSC được chẩn đoán ở giai đoạn III hoặc IV (hình 1) và có tiên lượng xấu. Các bằng chứng phân tử cho thấy ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp là một phân nhóm của HGSC, trong đó biểu mô có hình thái tương tự như biểu mô đường tiết niệu ác tính. (Xem thêm ‘Ung thư biểu mô thanh dịch độ cao’‘Ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp’ ở dưới.)

Ung thư biểu mô thanh dịch độ thấp – LGSC thường được chẩn đoán ở giai đoạn tiến triển. Tuy nhiên, về mặt sinh học, những khối u này khác biệt với HGSC; chúng là những u phát triển chậm, diễn tiến âm thầm và tương đối ít nhạy với hóa trị liệu phác đồ chứa platinum. LGSC thường đi kèm với thành phần u ranh giới thanh dịch không xâm lấn. U ranh giới thanh dịch phổ biến hơn LGSC, và LGSC nhiều khả năng là kết quả của sự tiến triển từ một u ranh giới thanh dịch. (Xem thêm ‘Ung thư biểu mô thanh dịch độ thấp’‘U ranh giới thanh dịch’ ở dưới.)

Ung thư biểu mô dạng nội mạc tử cung

  • Ung thư biểu mô dạng nội mạc tử cung thường có độ ác tính thấp và đa số được phát hiện ở giai đoạn sớm. Loại u này tương đối nhạy với hóa trị platinum. Những đặc điểm này giúp tiên lượng chung tốt hơn so với ung thư biểu mô thanh dịch. Tuy nhiên, ung thư biểu mô dạng nội mạc tử cung độ cao có khả năng không phải là một loại u riêng biệt, mà là một phân thể của HGSC. (Xem thêm ‘Ung thư biểu mô dạng nội mạc tử cung’ ở dưới.)
  • Ung thư biểu mô buồng trứng dạng nội mạc tử cung liên quan đến ung thư nội mạc tử cung trong 15 đến 20% trường hợp. Trong những tình huống này, cần xác định xem vị trí nguyên phát là ở buồng trứng hay tử cung, hoặc liệu có sự xuất hiện đồng thời của các khối u ác tính tại cả hai vị trí (bảng 2). (Xem thêm ‘Ung thư biểu mô dạng nội mạc tử cung’ ở dưới.)

Ung thư biểu mô tế bào sáng – Ung thư biểu mô tế bào sáng thường khởi phát ở giai đoạn sớm (giai đoạn I hoặc II) và có tiên lượng tương đối tốt do không có di căn xa. Tuy nhiên, khi phát hiện ở giai đoạn tiến triển, tiên lượng của loại u này xấu hơn so với ung thư biểu mô thanh dịch hoặc dạng nội mạc tử cung. Cả ung thư biểu mô dạng nội mạc tử cung và ung thư biểu mô tế bào sáng của buồng trứng đều có liên quan đến lạc nội mạc tử cung và u xơ tuyến (adenofibroma) buồng trứng. (Xem thêm ‘Ung thư biểu mô dạng nội mạc tử cung’‘Ung thư biểu mô tế bào sáng’ ở dưới.)

Ung thư biểu mô nhầy – Ung thư biểu mô nhầy nguyên phát của buồng trứng thường chỉ xảy ra một bên, khởi phát ở giai đoạn sớm và không gây ra hội chứng giả nhầy phúc mạc (pseudomyxoma peritonei). Tuy nhiên, các u nhầy khác của buồng trứng chiếm khoảng 10 đến 15% tổng số u buồng trứng, bao gồm: u nang tuyến nhầy lành tính, u ranh giới nhầy và các tổn thương di căn (thường gặp nhất là từ đường tiêu hóa). (Xem thêm ‘Ung thư biểu mô nhầy’ ở dưới.)

U ranh giới – U ranh giới buồng trứng có biểu mô tăng sinh ở các mức độ khác nhau, với tiềm năng sinh học nằm giữa u nang tuyến lành tính và ung thư biểu mô xâm lấn. U ranh giới có thể biểu hiện nhiều phân thể mô bệnh học, bao gồm u ranh giới thanh dịch (phổ biến nhất) (hình 7), u ranh giới nhầy và u ranh giới dạng nội mạc tử cung. (Xem thêm ‘Tổng quan về u ranh giới’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here