Ung thư biểu mô tế bào vảy ở âm hộ: Phân giai đoạn và điều trị phẫu thuật

TÓM TẮT

Đặc điểm mô bệnh học – Ung thư âm hộ là loại ung thư phụ khoa phổ biến thứ tư tại các quốc gia phát triển. Đa số các trường hợp ung thư âm hộ có tổ chức mô bệnh học là ung thư biểu mô tế bào vảy. (Xem thêm phần ‘Giới thiệu’ ở dưới.)

Phân giai đoạn – Hệ thống phân giai đoạn của Liên đoàn Phụ khoa và Sản khoa Quốc tế (FIGO) năm 2021 được trình bày trong bảng (bảng 1). Ủy ban Hỗn hợp về Ung thư Hoa Kỳ (AJCC) công bố ký hiệu bệnh lý TNM (khối u, hạch, di căn), đây là hệ thống kết hợp giữa lâm sàng và phẫu thuật/giải phẫu bệnh (bảng 2). (Xem thêm phần ‘Hệ thống phân giai đoạn’ ở dưới.)

Kích thước khối u và độ xâm lấn chủ yếu được xác định thông qua thăm khám lâm sàng và sinh thiết âm hộ; các hạch bạch huyết được đánh giá bằng thăm khám, chẩn đoán hình ảnh, nạo hạch hoặc sinh thiết hạch gác (SLNB).

Phẫu thuật cắt bỏ tổn thương âm hộ – Việc lựa chọn phương pháp phẫu thuật cắt bỏ tùy thuộc vào phạm vi của tổn thương (sơ đồ 1). Cắt bỏ vùng mô tổn thương với diện cắt đủ an toàn giúp bảo tồn giải phẫu âm hộ và hỗ trợ quá trình lành vết thương. (Xem thêm phần ‘Phẫu thuật cắt bỏ tổn thương âm hộ’ ở dưới.)

Đánh giá và xử trí hạch bạch huyết – Việc đánh giá hoặc xử trí hạch bạch huyết chủ yếu căn cứ vào việc có sờ thấy hạch bẹn-đùi trên lâm sàng khi thăm khám hay không (sơ đồ 2). (Xem thêm phần ‘Hạch bẹn-đùi’ ở dưới.)

  • Bệnh nhân giai đoạn IA và không sờ thấy hạch bẹn-đùi chỉ cần phẫu thuật cắt bỏ tổn thương nguyên phát, không cần nạo hạch.
  • Đối với bệnh nhân giai đoạn từ IB đến II có nguy cơ di căn hạch thấp (khối u < 2 cm, vị trí lệch tâm, không sờ thấy hạch), chúng tôi khuyến cáo nạo hạch một bên (cùng bên tổn thương) hoặc sinh thiết hạch gác (SLNB) thay vì nạo hạch hai bên (Khuyến cáo 2C). Nạo hạch hai bên được chỉ định cho bệnh nhân có hạch sờ thấy hoặc có các yếu tố khác (khối u ≥ 2 cm, vị trí trung tâm và/hoặc xâm lấn tại chỗ).
  • Cần thêm dữ liệu về tiêu chuẩn lựa chọn SLNB liên quan đến giới hạn trên của kích thước khối u và nguy cơ tái phát tại bẹn. Nhiều trung tâm hiện nay thực hiện SLNB cho bệnh nhân có đường kính khối u < 4 cm. (Xem thêm phần ‘Một bên so với hai bên’ ở dưới.)
  • Bệnh nhân có hạch bẹn-đùi sờ thấy thường không thực hiện nạo hạch toàn bộ mà được xử trí bằng phẫu thuật giảm khối u (debulking) cho các hạch bẹn-đùi này.

Xử trí khi diện cắt dương tính hoặc diện cắt hẹp – Đối với những bệnh nhân có khối u nằm tại hoặc sát diện cắt phẫu thuật (≤ 8 mm) được xác định qua phân tích giải phẫu bệnh cuối cùng, chúng tôi khuyến cáo phẫu thuật cắt bỏ lại để đảm bảo lấy hết toàn bộ khối u thay vì chỉ theo dõi (Khuyến cáo 2C). Với những bệnh nhân không mong muốn hoặc không thể phẫu thuật lại, các dữ liệu hạn chế cho thấy xạ trị là một lựa chọn thay thế hợp lý, đặc biệt khi việc phẫu thuật thêm có thể ảnh hưởng đến chức năng của các cấu trúc đường giữa lân cận (âm vật, âm đạo, hậu môn). (Xem thêm phần ‘Xử trí khi diện cắt dương tính hoặc diện cắt hẹp’ ở dưới.)

Vai trò của các phương pháp điều trị khác – Hóa trị và xạ trị trong ung thư âm hộ, dù là điều trị bổ trợ hay điều trị chính cho những trường hợp không thể phẫu thuật, sẽ được thảo luận chi tiết trong các phần riêng. (Xem “Ung thư biểu mô tế bào vảy âm hộ: Điều trị nội khoa và tiên lượng”, mục ‘Điều trị bổ trợ cho bệnh có thể phẫu thuật cắt bỏ’“Ung thư biểu mô tế bào vảy âm hộ: Điều trị nội khoa và tiên lượng”, mục ‘Bệnh không thể xử trí bằng phẫu thuật’.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here